Sau năm 1975, ba tôi kết hôn với mẹ tôi và cùng sinh sống ổn định với bà nội (các cô đã lấy chồng trước đó) và cũng sinh hạ được 5 người con, 4 gái và 01 trai (là tôi). Đến năm 1999, bà nội tôi lâm bệnh và mất không để lại di chúc. Ba tôi sinh sống ổn định và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSD đất với diện tích đất ở là 525m2 vào năm 2009 do Ba tôi và Mẹ tôi đứng tên. Không lâu sau đó, Ba tôi lâm bệnh và mất (2009). Trong 4 người Cô ruột thì chỉ có 01 người hiện nay còn sống. Vào tháng 8/2011, Gia đình tôi đã họp và Mẹ tôi thống nhất làm thủ tục phân chia tài sản thừa kế thành 6 phần (Mẹ và 5 người con) và đã được Chủ tịch UBND xã xác nhận. Đến tháng 9/2016, những người con của Cô ruột (cô thứ 4) yêu cầu Gia đình tôi phân chia tài sản thừa kế đối với ngôi nhà và mảnh đất trên. Thông tin thêm: Năm 2001, Gia đình chúng tôi đã xây dựng một ngôi nhà mới và đã chuyển đến ở tại ngôi nhà này. Ngôi nhà trước đây gia đình chúng tôi ở (được cấp chứng nhận Quyền SD đất như nói ở trên) đóng cửa. Đến năm 2006, do không có nhà ở nên gia đình chúng tôi cho người con trai của Cô ruột đến ở tạm (không có giấy mượn nhà), và đã ở đến tận bây giờ. Như vậy, tôi xin được hỏi Luật sư, việc yêu cầu phân chia tài sản thừa kế của các con cô ruột tôi như vậy có đúng không và các giấy tờ: Quyền sử dung đất; Văn bản thừa kế của Gia đình tôi có hợp pháp không? Trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty Luật Minh Khuê.

Phân chia thừa kế về đất ở ?

 Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Dân sự năm 2005

Luật Đất đai năm 2013

II. Nội dung tư vấn:

Theo thông tin mà bạn cung cấp, ba mẹ bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trường hợp sinh sống ổn định, lâu dài trên đất mà không phải trường hợp thừa kế từ ông bà bạn. Điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lúc đó (tức năm 2009) được áp dụng theo quy định tại Luật Đất đai 2003. Theo quy định tại khoản 4 Điều 50 luật Đất đai 2003:

"Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất."

Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ba mẹ bạn lúc đó được cấp là hợp pháp. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bạn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Các cô của bạn không còn quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này nữa.

Về văn bản phân chia di sản của gia đình bạn. Ba bạn qua đời mà không để lại di chúc, theo đó, di sản của ba bạn sẽ được chia theo quy định của pháp luật (Điều 675 BLDS). Theo quy định tại Điều 676 BLDS:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, mẹ bạn và 5 người con của ba mẹ bạn là những người thừa kế hàng thứ nhất di sản để lại của ba bạn. Các cô ruột của bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai của ba bạn, con trai của cô bạn thuộc hàng thừa kế thứ ba của ba bạn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 676 BLDS, người cô còn sống của bạn và con trai của cô không được hưởng di sản thừa kế do những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn sống đến thời điểm mở thừa kế và đủ tư cách thừa kế di sản. 

Việc phân chia di sản được thực hiện theo thủ tục họp mặt những người thừa kế theo quy định tại Điều 681 BLDS:

"Điều 681. Họp mặt những người thừa kế

1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản."

Theo thông tin mà bạn cung cấp, tháng 8/2011, gia đình bạn đã họp và đã thống nhất làm thủ tục phân chia tài sản thừa kế thành 6 phần (mẹ bạn và 5 người con) và đã được Chủ tịch UBND xã xác nhận. Do đó, biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của gia đình bạn là hợp pháp. Do đó, khi di sản đã được phân chia đúng theo trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định thì con trai của cô bạn không có quyền yêu cầu phân chia di sản nữa.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự.