Do đó, nội dung sẽ khá dài. Tuy nhiên tôi có tóm lại tại phần cuối về những vướng mắc cốt lõi mong luật sư giải đáp.

I.Hiện trạng nhân khẩu và tài sản: 1. Nhân khẩu gia đình tôi như sau: - Gia đình tôi có 2 anh em và bố mẹ tôi. Mẹ tôi mất năm2014 và không có di chúc. Tôi vẫn còn bà ngoại và bà có 7 người con (kể cả mẹ tôi). Trong vòng 6 tháng tới ba tôi sẽ lấy vợ mới. 2. Hiện trạng tài sản: nhà tôi có 1 căn nhà và 1 mảnh đất khác. Nguồn hình thành như sau: Căn nhà hình thành từ công sức chung của ba mẹ, mảnh đất còn lại: ba tôi được ông nội cho một khoản tiền và dùng khoản tiền này để mua đất. Sau nhiều lần mua đi bán lại nhiều mảnh đất khác nhau thì mua được mảnh đất hiện tại. Vướng mắc số1: ai sẽ có quyền sở hữu đối với các tài sản trên, cụ thể là trường hợp nào trong 2 trường hợp sau : i: Ba mẹ có chung quyền sở hữu với tất cả tài sản trên, ii: Ba mẹ có chung quyền sở hữu với căn nhà, nhưng chỉ có ba sở hữu mảnh đất (do hình thành từ tài sản của ông nội. Trường hợp ba không chứng minh được thì có phải sẽ quay về trường hợp 1 không?) Vướng mắc số 2: việc ai đó đứng trên các giấy tờ nhà đất có ảnh hưởng đến quyền sở hữu các tài sản không, cụ thể có 3 trường hợp (vì tôi chưa được xem các giấy tờ nhà) Trường hợp 1: Ba mẹ cùng đứng tên tất cả tài sản. Trường hợp 2: Ba mẹ cùng đứng tên căn nhà, ba đứng tên mảnh đất kia. Trường hợp 3: Ba đứng tên hết các tài sản.

II.Phân chia tài sản thừa kế và cho tặng: Giả sử mọi việc diễn ra theo vướng mắc số 2 thì việc phân chia tài sản sẽ thế nào ạ. Trường hợp thứ 1: ba mẹ đứng tên chung tất cả tài sản. Theo luật thì các tài sản trên sẽ gồm 1/2 của ba và 1/2 của mẹ. Trong đó, 1/2 của mẹ sẽ được chia lại cho ba, 2 anh em tôi và bà ngoại. Tình huống thứ 1: ba tôi chưa đăng ký kết hôn với vợ mới và sẽ cho tặng căn nhà cho 2 anh em. Vướng mắc số 3 : Nếu ba tôi muốn cho tặng 2 anh em căn nhà thì có cần có chữ ký của bà ngoại không. Cụ thể là khả năng nào sau đây sẽ xảy ra : Không cho tặng được vì phải có chữ ký của bà ngoại.  Vẫn tiến hành cho tặng được phần tài sản của ba. Sau này, việc bà ngoại có cho tặng hay không thì tính sau, căn nhà thuộc sở hữu của 3 người : 2 anh em và bà ngoại. Vướng mắc số 4: trong trường hợp bà ngoại mất. Vậy khi cho tặng căn nhà có cần chữ ký của các cô chú bác là con bà ngoại không. Nếu không được, trong trường hợp cần bán nhà thì phải làm sao. Vướng mắc số 5:  giả sử căn nhà đã cho tặng xong cho 2 anh em. Sau đó, ba tôi đăng ký kết hôn với vợ mới. Ba và vợ mới xây nhà trên mảnh đất kia bằng tiền của ba tôi. Vậy, người vợ mới sẽ được thừa kế như thế nào khi ba mất: không được thừa kế mảnh đất (do hình thành trước hôn nhân) mà chỉ được thừa kế một phần ngôi nhà trên đất (giá trị ngôi nhà được chia đều 3 người gồm 2 anh em tôi và vợ mới). Không được thừa kế: do không đóng góp gì.-Tình huống số 2: ba tôi đã đăng ký kết hôn. Ba sẽ cho 2 anh em căn nhà. Ba khẳng định mảnh đất là của ba. Vướng mắc số 6: Nếu ba tôi đã kết hôn vậy khi cho tặng căn nhà cho 2 anh em thì có cần chữ ký của vợ mới không. Hoặc sau này ba mất thì vợ mới có được thừa kế một phần của căn nhà không.Tóm lại: ba tôi sẽ cưới vợ mới và cho anh em tôi căn nhà. Tôi băn khoăn 2 vấn đề :1.Khi ba tôi kết hôn thì việc cho tặng sẽ khó khăn hơn không. 2.Trên cơ sở: ba tôi sẽ cho 2 anh em căn nhà. Nhưng bà tôi không ký giấy tờ hoặc bà mất thì có cách nào để căn nhà trở thành tài sản của 2 anh em. 3.Trên cơ sở căn nhà thuộc 2 anh em nhưng 1 trong 2 người không muốn bán thì cách nào để giải quyết trên pháp luật không.

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

2. Nội dung tư vấn

 - Căn cứ luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Như vậy: Căn nhà là tài sản chung của bố mẹ bạn vì được hình thành từ công sức của cả hai người. Mảnh đất có được là tiền của ông nội bạn tặng cho bố bạn như vậy đây là tài sản của bố bạn nếu bố bạn có căn cứ chứng minh tiền mua đất là tài sản riêng của bố bạn; nếu không chứng minh được thì mảnh đất này sẽ thuộc sở hữu chung của cả bố và mẹ bạn.

Việc đứng tên trong giấy chứng nhận quền sử dụng tài sản chung có thể có cả tên bố mẹ bạn hoặc chỉ có tên bố/mẹ bạn do bố mẹ bạn thỏa thuận điều này không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản chung của các bên. Nếu bố bạn chứng minh được mảnh đất có được là do tài sản riêng của bố bạn thì mảnh đất đó chỉ thuộc quyền sở hữu của bố bạn.

- Căn cứ bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Như vậy:  3 bố con bạn và bà ngoại bạn đồng thừa kế phần tài sản của mẹ bạn.

Do mẹ bạn không để lại di chúc, nên việc phân chia tài sản áp dụng điều 685 bộ luật dân sự. Khi đó phần tài sản bà ngoại bạn được nhận bố con bạn có thể thỏa thuận mua lại. Sau khi mua lại thì nửa căn nhà đấy thuộc thừa kế của bố con bạn. Khi này bố bạn tặng cho anh em bạn căn nhà không cần phải có chữ ký bà ngoại bạn.

Sau khi bố bạn kết hôn và xây nhà trên mảnh đất kia, nếu bố bạn mất thì chia ra 2 trường hợp: 

1. Bố bạn có để lại di chúc, khi này chi theo di chúc.

2. Bố bạn không để lại di chúc, khi này chia theo pháp luật. Vì người kia là vợ mới bố bạn nên vẫn được hưởng thừa kế theo hàng thứ 1 và phần thừa kế như 2 anh em bạn.

- Căn cứ điều 31 bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 31. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.

- Căn cứ Điều 685 bộ luật dân sự 2005, thì nếu một trong hai anh em bạn không muốn bán mà đây lại là tài sản thừa kế thì một trong hai người mua lại phần của người kia. Nếu như anh em bạn vẫn không thỏa thuận được thì buộc phải đem bán rồi chia phần.

Nếu sau khi kết hôn, mà ngôi nhà là duy nhất của vợ chồng bố  bạn và ba bạn xác nhập tài sản đó vào tài sản chung của vợ chồng bố  bạn thì cần có sự đồng ý của cả vợ bố bạn. Nếu bố bạn chưa xác nhập vào tài sản chung mà ngôi nhà đó cũng là chỗ ở duy nhất của vợ chồng bố bạn thì bố bạn sau khi tặng cho anh em bạn phải đảm bảo có chỗ ở cho vợ chồng bố bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! 

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự.