Tôi muốn hỏi: Trong trường hợp nếu bán ngôi nhà đó, thì việc phân chia tài sản sẽ như thế nào? Theo như tôi tìm hiểu, giá trị ngôi nhà đó sẽ chia làm 2 phần: A và B. Phần A: sẽ chia cho 4 người con dòng lớn. Phần B: sẽ chia cho 10 người con dòng sau & 4 người con dòng lớn. Tôi muốn hỏi thêm: Vì 4 người con dòng lớn có công sức chăm lo và xây dựng ngôi nhà khang trang (con dòng nhỏ không cư trú từ nhỏ đến lớn), nên có thể chia tài sản đó theo tỷ lệ 6/4 được hay không? (dòng lớn 6, dòng nhỏ 4). Ngoài ra, trong trường hợp nếu chia tài sản đó làm 5 phần thì có được không? (Dòng lớn 4 phần, 10 người con dòng nhỏ 1 phần. Vì thực tế những người con dòng nhỏ không góp công sức vào việc xây dựng ngôi nhà). Xin cho tôi ý kiến. Chân thành cám ơn.

Người gửi: N.T.M

Câu hỏi được biên tập từchuyên mụchỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Phân chia tài sản thừa kế trong trường hợp có hai vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế tài sản trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2005

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 

Nội dung phân tích

Điều 675 khoản 1 điểm a Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc

Trường hợp của bạn, ông nội bạn qua đời không để lại di chúc nên sẽ thuộc trường hợp phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật.

Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 641 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 641. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm  

Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này.

Trước hết, cần xác định vợ hợp pháp của ông nội bạn vào thời điểm mở thừa kế (lúc ông nội bạn qua đời) là người đã đăng ký kết hôn với ông nội bạn, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình 2014 hoặc Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 9. Đăng ký kết hôn
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình  quy định:

Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

 b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Đối với người vợ không hợp pháp thì người vợ này có quyền yêu cầu tòa án xác định quyền lợi của người đó đối với nhà đất này. Khi giải quyết tranh chấp, tòa án có thể tính đến công sức, tiền bạc do người vợ đó đóng góp vào việc hình thành tài sản (ví dụ: tiền góp mua chung đất, tiền xây nhà, tiền và công sức cải tạo nhà đất trong thời gian chung sống...). Phần tài sản của người vợ không hợp pháp được chia đều cho các con của người vợ này.

Căn cứ vào quy định tại điều 641 và điều 676 Bộ luật dân sự 2005, xét hai trường hợp:

Trường hợp 1: Vợ hợp pháp của ông nội bạn chết sau thời điểm mở thừa kế (thời điểm ông nội bạn qua đời)

Tài sản của ông nội bạn là ngôi nhà sau khi trừ đi phần quyền lợi của người vợ không hợp pháp thì được chia đều cho người vợ hợp pháp và 14 người con; người vợ hợp pháp đã chết không để lại di chúc thì phần di sản của người vợ hợp pháp được chia đều cho các con của người vợ này (thừa kế theo pháp luật).

Trường hợp 2: Vợ hợp pháp của ông nội bạn chết trước hoặc cùng thời điểm ông nội bạn chết

Trong trường hợp này, các con của ông nội bạn (không phân biệt dòng lớn hay dòng nhỏ) đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau; tức là tài sản thừa kế (ngôi nhà sau khi trừ đi phần quyền lợi của người vợ không hợp pháp) được chia đều cho 14 người con của ông nội bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê