Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

I.Phân tích quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự.

1.Quy định về trả lại đơn khởi kiện.

Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại điều 192 BLTTDS 2015cụ thể như sau:

-Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại điều 186 và điều 187 BLTTDS 2015 hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 của BLTTDS 2015.

-Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn đương sự có quyền khởi kiện lại như: ly hôn, thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện.

-Hết thời hạn quy định tại khoản 2 điều 195 của BLTTDS 2015 mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng. Đây là những trường hợp thẩm phán được phân công xem xét đơn đã chấp nhận đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí nhưng quá thời hạn 7 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ, người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho tòa án mà không thuộc trường hợp có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng.

-Chưa có đủ điều kiện là trường hợp các đương sự có thỏa thuận trước hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện) nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu 1 trong số các điều kiện đó. Chẳng hạn như theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải cơ sở. Như vậy, trước khi khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp đất đai thì người khởi kiện phải chủ động gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã để đề nghị giải quyết và hào giải ở cơ sở. nếu chưa qua thủ tục hòa giải ở cơ sở thì tòa án trả lại đơn khởi kiện với căn cứ chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

-Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết là trường hợp nội dung đơn yêu cầu giải quyết không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS 2015. Việc trả lại đơn khởi kiện khi vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là trường hợp theo quy định của pháp luật vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức khác.

Chẳng hạn như đương sự nộp đơn khởi kiện đến tòa án yêu cầu phải xử lý hành vi thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái các quy định của pháp luật về quản lý đất đai của một số cán bộ ủy ban nhân dân xã. Trường hợp này không thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc của tòa án mà thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp trên và của cơ quan công an nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Tòa án trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

-Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện là trường hợp đã nhận được yêu cầu về bổ sung đơn khởi kiện của thẩm phán nhưng họ không tiến hành sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều 193 BLTTDS 2015. Theo quy định tại khoản 1 điều 189 BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. đơn khởi kiện phải có các nội dung chính quy định tại khoản 4 điều BLTTDS, nếu thiều 1 trong các nội dung chính này thì thẩm phán yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Nếu không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 điều 193 BLTTDS 2015.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

“Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS được xác định như sau: theo Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn Khoản 1, 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về trả lại đơn khởi kiện và hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú, tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;

b) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

c) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hoặc theo quy định của pháp luật nước, vùng lãnh thổ nơi họ đang cư trú;

d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật;

Trường hợp cơ quan, tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hoặc theo pháp luật nơi cơ quan, tổ chức đó có quốc tịch.  

Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ,cụ thể địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 BLTTDS thì Tòa án phải thụ lý vụ án.

Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng sau khi thụ lý vụ án Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ đúng của họ. Trường hợp nguyên đơn đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không cung cấp được đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ đúng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập, xác minh theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng vẫn không xác định được đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án áp dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, trừ những trường hợp sau đây:

a) Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà sau 24 tháng kể từ ngày chuyển đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà không làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú làm cho người khởi kiện không biết được thì được coi là “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”;

b) Trường hợp người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo giao dịch, hợp đồng các bên đã giao kết thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLLTTDS;

c) Trường hợp nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để xác định địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 4 Điều này.

-Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi tòa án thụ lý vụ án. Đây là trường hợp người khởi kiện đã nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp,tuy nhiên trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, thẩm phán được phân công đang kiểm tra các điều kiện khởi kiện, chưa tiến hành thụ lý vụ án thì người khởi kiện đã đến tòa án đề nghị được lấy lại hồ sơ khởi kiện và khong khởi kiện nữa. tòa án phải lập biên bản trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho họ. Đây là  căn cứ mới được quy định bổ sung trong BLTTDS 2015 trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự vì họ là người có quyền nộp đơn khởi kiện thì họ cũng có quyền dừng việc khởi kiện bất cứ lúc nào.

2.Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện.

Điều 194 BLTTDS quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án tòa án phải phân công một thẩm phán giải quyết khiếu nại. Tùy trường hợp thẩm phán tòa án ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ để thụ lý vụ án dân sự.

II.Đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự.

Nhận xét chung:

Sau khi có hiệu lực thi hành, BLTTDS 2015 đã góp phần rất tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân sự diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, một vài con số thống kê có thể nói lên phần nào điều đó.

Kết quả này có được phần lớn là do quy định tương đối chặt chẽ trong thực tiễn thi hành và áp dụng luật. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được kể trên, vấn đề trả lại đơn khởi kiện cũng bộc lộ không ít hạn chế, gây khó khăn trong công tác thực hiện và thi hành pháp luật.

Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trả lại đơn khởi kiện:

Việc người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 192 chính là trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện vì không thỏa mãn điều kiện về hình thức, nội dung đơn khởi kiện.

Theo em, cách hiểu này là chưa hợp lý. Việc chưa đủ điều kiện khởi kiện phải hiểu là đương sự có quyền khởi kiện nhưng tại thời điểm khởi kiện họ chưa thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định. Hay nói cách khác, quyền khởi kiện trong trường hợp này bị hạn chế. Khi nào điều kiện khởi kiện đó thỏa mãn thì họ lại được tiếp tục khởi kiện. Đó là các trường hợp pháp luật nội dung quy định chứ không phải là không thỏa mãn về hình thức đơn khởi kiện. Vì vậy không nên coi việc không thỏa mãn được các quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện là trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện để trả lại đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, tòa án vẫn thụ lý vụ án, đồng thời yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Trong thực tế nhiều tòa án trả lại đơn khởi kiện không có căn cứ theo quy định cả điều 192 BLTTDS 2015. Ví dụ như trả lại đơn khởi kiện vì lý do việc kiện đã được cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết, hoặc vì lý do Sở lao động-Thương binh và xã hội tỉnh đang thụ lý giải quyết vụ việc. Theo quy định của Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội và BLTTDS thì cơ quan bảo hiểm xã hội không phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động, do đó quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan bảo hiểm xã hội không phải là cơ sở để tòa án không thụ lý vụ kiện, việc thụ lý đơn khiếu nại của các cơ quan này không hạn chế quyền khởi kiện của các bên tranh chấp.

Về hình thức văn bản trả lại đơn khởi kiện nên quy định rõ hình thức văn bản là quyết định, như vậy mới phù hợp với luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tham khảo pháp luật của một số nước về hình thức văn bản thấy hầu hết các hành vi tố tụng do thẩm phán tiến hành đều thể hiện dưới hình thức văn bản là quyết định và đều có thể bị khiếu nại. Cho dù là ai thực hiện hành vi trả lại đơn khởi kiện cho đương sự thì văn bản do Tòa án phát ra đều có chữ ký và con dấu của Tòa án đó. Mà thực tế chỉ có những người có chức danh trong Tòa án mới có quyền ký tên, đóng dấu; do đó, khi trả lại đơn khởi kiện nên ra bằng hình thức quyết định là thích hợp nhất.

Tại điểm d khoản 3 điều 191 quy định về việc tòa ra quyết định trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa là không hợp lý. Bởi xét trong cấu trúc bộ luật, đã có một điều quy định cụ thể về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện (Điều 192), và trả lại đơn khởi kiện nếu việc không thuộc thẩm quyền của tòa là điểm đ khoản 1 Điều này. Vì vậy, có thể thấy, cùng một vấn đề, có hai điều luật cùng quy định, dẫn đến tình trạng lặp, không thống nhất. Nên Điều 191 khoản 3 nên sửa thành: “Trả lại đơn cho người khởi kiện, theo quy định của pháp luật”, và Điều 192 sẽ cụ thể hóa các trường hợp đó.

Kết luận: Trên thực tế, trong quá trình thi hành và áp dụng các quy định của bộ luật, ít nhiều đã bộc lộ những hạn chế và thiếu sót. Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, các nhà làm luật cần có các quy định khắc phục những điểm khuyết trong các quy định của pháp luật đã xảy ra trong thực, và dự liệu trước được các khó khăn có thể xảy ra trong tương lai, qua đó có những quy định hợp lý, phù hợp với thực tiễn hơn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê