Tới tháng 7/2015 phía đối tác mới chuyển trả cho phía công ty chúng tôi 50 triệu đồng (trả cho có nhưng vẫn chây ỳ). Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Công ty chúng tôi đã bị đối tác lợi dụng lòng tin để tiếp tục cung cấp hàng hoá cho họ với các lý do: đang khó khăn tài chính, "phía bên kia của họ" chưa thanh toán, không có tiền, "phía bên kia của họ" mới bị Công an kinh tế sờ gáy và bị phạt... Nhưng qua tìm hiểu của chúng tôi: - Họ có khó khăn kinh tế nhất định nhưng vẫn có tiền hoạt động, thậm chí còn dựng xưởng mới, có tiền từ dự án vừa hoàn thành (dự án khác không nằm trong phạm vi hợp đồng này), nhận thêm dự án mới... - Phía cty mà họ bán lại hàng do bên công ty chúng tôi cung cấp có bị Công an kinh tế phạt nhưng là năm 2014, số tiền phạt là 60 triệu chứ không thiệt hại nặng nề như đối tác miêu tả. Liệu công ty chúng tôi có thể khởi kiện công ty đối tác (kiện dân sự), tố cáo hành vi lạm dụng của giám đốc công ty đối tác không (khởi tố hình sự)? Và nơi nhận các yêu cầu này có thể là công an tỉnh không (do bên CA huyện của đối tác, họ có "chân rết")?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự Công ty Luật Minh Khuê.

Phạt vi phạm hợp đồng gia công ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Nội dung trả lời

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định 

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011

Nội dung tư vấn:

Điều 549 Bộ luật dân sự 2005 có quy đinh về nghĩa vụ của bên đặt gia công như sau:

"Điều 549. Nghĩa vụ của bên đặt gia công

Bên đặt gia công có các nghĩa vụ sau đây:

1. Cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn và địa điểm cho bên nhận gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác; cung cấp các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc gia công;

2. Chỉ dẫn cho bên nhận gia công thực hiện hợp đồng;

3. Trả tiền công theo đúng thoả thuận."

Như vậy việc bên công ty đối tác không trả tiền theo như đã thỏa thuận cho bạn là trái với quy định của pháp luật, và xâm phạm đến quyền và lợi ích của công ty bạn nên bạn có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, sinh sống, có trụ sở để giải quyết vấn đề của mình theo quy định tại khoản 2 điều 56 bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định cụ thể như sau.

" Điều 56. Đương sự trong vụ án dân sự

2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn."

Như vậy người đại diện theo pháp luật của công ty bạn có thể thay mặt công ty khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết quyền và lợi ích của công ty mình. Và về nguyên tắc thì bạn vẫn phải gửi đơn khởi kiện ra Tòa Án nhân dân cấp huyện trước nếu Tòa Án nhân dân cấp huyện xét xử không công bằng thì bạn có thể kháng cáo lên Tòa Án nhân dân cấp tỉnh. 

Về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì có thể căn cứ vào điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định 

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ  năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Theo đó Bạn có thể tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của giám đốc công ty đối tác cho cơ quan công an cấp tỉnh theo quy định tại Điều 101 Luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

" Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản." 

Sau đó trách nhiệm của cơ quan nhận tin tố giác sẽ phải báo cho cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra bằng văn bản theo đúng thẩm quyền điều tra quy định tại khoản 4 điều 110 Luật tố tụng hình sự 2003.

" Điều 110. Thẩm quyền điều tra 

4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực; Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp dưới nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra."

Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.