Đến nay đã quá hạn.
Ngày 20/5/2014 Ông A làm giấy cam kết trả nợ Quỹ tín dụng X trong đó có nội dung “ gia đình tôi cam kết đến ngày 30/5/2014 sẽ trả hết gốc và lãi nếu đến kỳ hạn trên gia đình tôi không thực hiện đúng cam kết gia đình tôi đồng ý ủy quyền cho người đại diện Quỹ tín dụng X làm người đại diện gia đình tôi bán tài sản đã thế chấp để trả nợ cho Quỹ tín dụng và ký vào các giấy tờ liên quan đến bán tài sản…” Văn bản này đã được UBND xã chứng thực.
1.Tính pháp lý của bản cam kết? Căn cứ bản cam kết trả nợ của khách hàng Quỹ tín dụng X có được tự ý bán tài sản không?
2.Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ông A và Quỹ tín dụng X có chứng thực UBND xã nhưng chưa đăng ký giao dịch bảo đảm, nếu khởi kiện ra tòa án Hợp đồng thế chấp có bị tuyên vô hiệu do vi phạm hình thức không?
Rất mong luật sư trả lời vào hòm thư của tôi.
Xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: TT Lam

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn về thế chấp tài sản, gọi : 1900 6162

 

Trả lời:

Kính chào bạn TT Lam, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Tính pháp lý của bản cam kết? Căn cứ bản cam kết trả nợ của khách hàng Quỹ tín dụng X có được tự ý bán tài sản không?

Pháp luật dân sự tôn trọng mọi sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự, mà các quan hệ đó không trái pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội. Bản cam kết trên của ông A hợp pháp nếu thỏa mãn các yêu cầu sau đây:

- Ông A là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

- Ông A là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Quyền sử dụng đất, nếu là tài sản chung thì phải được sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu khác.

Như bạn có cho biết, bản cam kết trên đã được Ủy ban nhân dân xã chứng thực, nên tính xác thực của các nội dung nêu trên có thể tin tưởng được. Do đó, bản cam kết trên là hợp pháp.

Mặc dù có thể nói rằng, bản cam kết trên là hợp pháp, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc khi hết thời hạn cam kết mà ông A không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì Quỹ tín dụng X được tự ý bán tài sản. Trong bản cam kết có nói đến việc ông A đồng ý ủy quyền cho Quỹ tín dụng X, nhưng để việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất này, Quỹ tín dụng X cần có văn bản ủy quyền của ông A về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bán đất), trong văn bản ủy quyền phải có những nội dung cần thiết thể hiện việc ủy quyền của ông A.

2.Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ông A và Quỹ tín dụng X có chứng thực UBND xã nhưng chưa đăng ký giao dịch bảo đảm, nếu khởi kiện ra tòa án Hợp đồng thế chấp có bị tuyên vô hiệu do vi phạm hình thức không?

Tại Điều 10 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định về hiệu lực của giao dịch bảo đảm như sau:                                                                                                                  

1.Giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ các trường hợp sau đây:

a) Các bên có thoả thuận khác;

b) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố;

c) Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp;

d) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp pháp luật có quy định."

Như vậy, giao dịch bảo đảm giữa ông A và Quỹ tín dụng X về thế chấp quyền sử dụng đất mặc dù chưa được đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng vẫn phát sinh hiệu lực bởi việc đóng dấu chứng thực của Ủy ban nhân dân xã. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa trong việc, nếu tài sản bảo đảm đó là tài sản bảo đảm đối với nhiều nghĩa vụ, thì việc đăng ký giao dịch bảo đảm xác định thứ tự ưu tiên thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp ông A chỉ sử dụng quyền sử dụng đất của mình làm tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với Quỹ tín dụng X, chưa đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng có chứng thực thì vẫn được coi là hợp pháp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ