Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật số 64/2014/QH13 của Quốc hội : LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội

Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

2. Nội dung phân tích:

Xin chào luật sư,bà em có cho một người cháu vay tiền nhưng đến hạn không trả.Bà quyết định thưa ra tòa và tòa xử người cháu đó phải trả cho bà 45 chỉ vàng 24k và 27 triệu đồng, nhưng đến nay đã 14 năm mà bản án vẫn chưa được thi hành.người cháu đó lại chuyển chỗ ở.Hỏi luật sư phải làm sao bà em mới lấy lại được tiền cua bà?người cháu đó còn thiếu nợ hụi của bà em là 41 triệu đồng nhưng lúc đó chưa có luật để xử nợ hụi.bà em phải làm sao?

Theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì:

"Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án."

Như vậy, trong trường hợp này, cần phải xem xét nội dung bản án mà Tòa án đã ra quyết định. Bởi trong trường hợp thông thường, trong thời gian 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực, hoặc trong thời hạn 05 năm kể từ ngày thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bán án (nếu có). Như vậy, nếu không thuộc vào các trường hợp trên, thì khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì bà bạn không được làm đơn yêu cầu thi hành án nữa. Đối với việc cháu của bà còn nợ 41 triệu tiền hụi, mà việc này chưa từng được Tòa án xét xử hay đưa ra quyết định thì bà bạn có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án. Nếu sau khi có bản án mà người phải thi hành án không chấp hành thì bà bạn có quyền làm đơn yêu cầu Thi hành án, để cơ quan này thực hiện các biện pháp cưỡng chế cần thiết, yêu cầu phía bên còn lại phải trả tiền cho bà bạn.

Kính thưa luật sư. Em có thiếu nợ tại một công ty và công ty thưa kiện em ra tòa. Sau khi tòa án tuyên án là em nợ công ty số tiền trên 500 triệu. Giờ tới hẹn trả nhưng em không có khả năng trả và hiện tại em cũng không có tài sản riêng. Vậy khi bên công ty yêu cầu thi hành án thì em có bị gì không?

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP về xác minh điều kiện thi hành án thì:

"1. Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

..................

3. Trường hợp chưa xác định được địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án hoặc chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án mà theo bản án, quyết định họ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiệnthi hành án. Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án phải ghi rõ việc thi hành án bị hoãn theo điểm b khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.

.............

Sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án."

Như vậy, nếu như sau khi xác minh và nhận thấy bạn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án ra quyết định chưa có thi hành án, thì bạn được hoãn thi hành án. Tuy nhiên, sau khi xác minh bạn có điều kiện thi hành án trở lại, thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án đối với bạn.

Xin nhờ Luật sư tư vấn cho gia đình tôi một việc như sau: Gia đình tôi có bà chị gái do vay nợ dân sự nhưng sau bị chuyển thành hình sự. Công an đã kê biên nhà và đất để bảo đảm việc thi hành án. Tòa đã xử và án đã có hiệu lực pháp luật. Nay phía bị hại có đơn yêu cầu thi hành án. Phía bị hại và gia đình tôi thống nhất là tự thỏa thuận giao tài sản đã kê biên để khấu trừ nghĩa vụ phải thi hànhán của chị tôi. Tôi muốn hỏi; Trường hợp tự thỏa thuận giao tài sản như vậy phía được thi hành án không và mức phí phải chịu là bao nhiêu. Xin cám ơn

Trong trường hợp này, nếu bạn và phía người bị hại thỏa thuận được với nhau về vấn đề này, thì bạn và người này có thể thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu đình chỉ Thi hành án dân sự, dựa trên căn cứ tại khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014:

"1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;

b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

c) Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;...."

Theo đó, khi bạn được đỉnh chỉ thi hành án dân sự, thì bạn phải chịu phí đối với những khoản được quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án dân sự như sau:

"1. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.'

Như vậy, nếu trong quá trình thực hiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện những công việc nào thì bạn phải chịu phí thi hành án trong những trường hợp đó dựa trên cơ sở được quy định như trên.

bà a vay tiền của tôi không trả ,ngày 4/5/2016 tòa thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản.Trước và trong lúc làm đơn khởi kiện tôi đã làm đơn đến chủ tịch ubnd nơi có tài sản của bà a.Ngày 17/5/2016 bà a thừa nhận nợ tôi 230000000 đ.Cùng ngày hôm đó tôi gặp trực tiếp về việc tòa đang chờ xét xử đề nghị xã tạm dừng việc bán đất của bà a,để đảm bảo thi hành án sau này.Nhưng ngày 26/5/2016 chủ tịch xã vẫn ký hợp đồng mua bán cho bà a. Chỉ 3 ngày sau bà a tẩu tán xong tài sản cho người khác.Bây giờ tôi phải làm đơn đến đâu để khôi phục là bà a có tài sản

Theo quy định của Nghị định 110/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính bổ trợ tư pháp thì:

"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;"

Và hình phạt bổ sung theo quy định này là buộc thu hồi tài sản đã bị tẩu tán. Theo đó, bạn làm đơn đến Cục trưởng cục thi hành án dân sự để người này ra quyết định xử phạt hành chính và áp dụng hình phạt bổ sung.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê