Vì thế mỗi tòa tính một kiểu, phụ thuộc vào quyết định cá nhân của thẩm phán...
Tình trạng thiếu thống nhất trong việc tính phí bảo đảm hiện nay đã tạo ra sự bất công giữa các đương sự.
Năm 2006, bà V. và bà T. hùn tiền đấu thầu được một khu đất tại tỉnh B. Khi bà V. yêu cầu được chia lợi nhuận thì hai bên mâu thuẫn. Bà V. đã kiện bà T. ra tòa đòi trả lại hơn 2,3 tỉ đồng tiền gốc đã bỏ ra mua đất cùng tiền lãi.

[B]Vụ khác, tháng 3-2010, bà L. kiện ông Q. ra tòa vì ông này vay của bà 70 triệu đồng nhưng mãi không trả. Tòa vừa thụ lý, bà L. đã yêu cầu tòa kê biên chiếc xe hơi cũ của ông Q. vì sợ ông sẽ bán để trốn tránh việc trả nợ. Tòa chấp nhận, sau khi xem xét giá trị chiếc xe hơi là khoảng 300 triệu đồng, tòa đã yêu cầu bà L. phải đóng tiền bảo đảm đúng 300 triệu đồng, tức 100% giá trị tài sản yêu cầu kê biên.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900 6162

Chưa có hướng dẫn
Các vụ việc trên chỉ là hai trong số rất nhiều vụ đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà mỗi tòa tính phí bảo đảm một kiểu. Theo một kiểm sát viên VKSND Tối cao, việc tính phí bảo đảm hiện nay mang tính cảm tính, phụ thuộc vào quyết định của thẩm phán giải quyết vụ án. Ông đã từng gặp trường hợp thẩm phán yêu cầu người áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp phí bảo đảm bằng 100% giá trị tài sản tranh chấp nhưng cũng có vụ chỉ cần người yêu cầu có quen biết với thẩm phán thì mức phí ấy lại rất ít, chỉ mang tính tượng trưng. Vậy vì sao lại có thực tế này?

Theo khoản 1 Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự, người yêu cầu tòa áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11 Điều 102 của bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do tòa ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện.
Một thẩm phán chuyên xét xử dân sự nhận xét luật quy định như thế nhưng lại chưa có hướng dẫn thế nào là “tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện”. Mặt khác, quy định trao cho tòa quyền ấn định mức phí nhưng lại không đặt ra tiêu chí nào cụ thể hơn. Vì vậy, các thẩm phán vẫn tự ước tính nhưng tính thế nào thì… tùy thông lệ ở từng tòa hoặc tùy từng thẩm phán.

Phải quy định khung phí?
Rõ ràng tình trạng thiếu thống nhất trong việc tính phí bảo đảm hiện nay đã tạo ra sự bất công giữa các đương sự, ảnh hưởng đến quyền yêu cầu của họ bởi không nộp phí bảo đảm thì không được tòa kê biên, phong tỏa.

Theo luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM, nguyên tắc chung là pháp luật phải rõ ràng, chính xác và áp dụng thống nhất nên chuyện mỗi tòa tính phí bảo đảm một kiểu là không ổn. Hiện nay có rất nhiều thắc mắc, khiếu nại quanh chuyện tính mức phí bảo đảm. Vì vậy, nếu có những khung phí cụ thể thì ngành tòa án dễ áp dụng, giảm bớt được gánh nặng bị khiếu nại, người yêu cầu dễ xác định mức phí bỏ ra để cân nhắc và tài sản bị kê biên, phong tỏa cũng được bảo đảm.

Luật sư Trương Xuân Tám, Ủy viên Ban Chấp hành Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cũng cho rằng luật phải bổ sung quy định rõ ràng về cách tính mức phí này. Các thang bậc phí đó phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế, thiệt hại thực tế nếu có sai lầm và thiệt hại xảy ra trong việc áp dụng kê biên. Theo luật sư Tám, nên tính theo tỉ lệ % từng đối tượng tài sản mà đương sự yêu cầu tòa kê biên, chẳng hạn với động sản thì bao nhiêu %, với bất động sản là bao nhiêu %, xe cộ, máy móc là bao nhiêu %…

Tính sao cho hợp lý?
Có ý kiến nói nên quy định mức phí bảo đảm phải tương đương với toàn bộ giá trị tài sản mà đương sự yêu cầu kê biên, phong tỏa. Chẳng hạn giá trị tài sản yêu cầu tòa kê biên, phong tỏa là 3 tỉ đồng thì người yêu cầu phải nộp đủ 3 tỉ đồng.

Ngược lại, nhiều người phản đối cho rằng như vậy thì khoản phí bảo đảm sẽ rất lớn, làm bó tay những người yêu cầu có hoàn cảnh khó khăn. Mục đích của khoản phí này là ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và để bảo vệ lợi ích của người bị kê biên, phong tỏa tài sản. Nhưng không phải lúc nào người bị kê biên, phong tỏa cũng bị thiệt hại và nếu có thì mức thiệt hại cũng khó có thể bằng toàn bộ giá trị tài sản bị kê biên, phong tỏa được. Do đó, việc nộp phí bảo đảm là cần thiết nhưng không thể lên đến 100% giá trị tài sản bị yêu cầu kê biên, phong tỏa.
Tự tính là không ổn
Để các thẩm phán tự ước tính như hiện nay là không ổn vì nó tạo sự chênh lệch giữa các tòa dù đối tượng cần áp dụng giống nhau. Tôi đã từng gặp trường hợp tòa yêu cầu nộp tiền bảo đảm xong xuôi rồi, quyết định khẩn cấp tạm thời cũng đã ban hành rồi nhưng sau đó, không biết tính toán kiểu gì, thẩm phán lại thông báo cho đương sự nộp tiền đảm bảo bổ sung. Hệ quả là vừa mất thời gian không cần thiết, vừa phát sinh thắc mắc, khiếu nại của đương sự.
Một luật sư Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước

Vẫn còn băn khoăn
Việc tính toán số tiền bảo đảm hiện rất khó nên nếu có quy định cụ thể thì đúng là rất khỏe cho tòa. Nhưng tôi băn khoăn là với những tài sản cố định, hiển hiện rõ như cái nhà, cái xe thì dễ, còn với các loại tài sản sinh lời theo thời gian thì sao? Bởi lẽ từ lúc tòa kê biên đến lúc giải quyết vụ án xong, tài sản ấy phát sinh giá trị hoặc biến đổi thì tất yếu sẽ phát sinh những yêu cầu đòi tòa bồi thường của đương sự. Khi ấy tòa sẽ không biết phân xử thế nào, trong khi quy định pháp luật liên quan lại chưa có.
Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật
:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ: 0243-9916057            Tổng đài tư vấn luật: 1900 6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:  Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê  

---------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn soạn thảo hợp đồng

2. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất

3. Tư vấn thừa kế quyền sử dụng đất

4. Dịch vụ công chứng sang tên sổ đỏ

5. Dịch vụ công chứng uy tín, chuyên nghiệp

6. Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng