Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật số 64/2014/QH13 của Quốc hội : LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội

Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

2. Nội dung phân tích:

Chào luật sư! Vui lòng Cho em hỏi những trường hợp nào đất và tài sản gắn liền với đất bị kê biên thi hành án ạ?

- Đối với quyền sử dụng đất:

Theo quy định tại Điều 110 Luật Thi hành án dân sự quy định:

"Điều 110. Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án

1. Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó."

Như vậy, quyền sử dụng đất được kê biên khi đất này là đất được quyền chuyển quyền sử dụng đất, và người phải thi hành án đồng ý kê biên tài sản này, hoặc không có động sản khác, hoặc tài sản khác không đủ để kê biên, thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

Đối với nhà ở: Điều 95 Luật này quy định:

"Điều 95. Kê biên nhà ở

1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.

2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.

3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết."

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này."

Như vậy, bạn xem xét nội dung trên để hiểu rõ trường hợp nào thì được cưỡng chế, kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất.

Nguyễn Văn A và Trần Văn B tranh chấp quyền sở hữu một căn nhà cấp 4, vụ việc trên đã được Tòa án nhân dân (TAND) huyện X, tỉnh Y giải quyết, theo đó TAND huyện X ra bản án tuyên: căn nhà trên thuộc sở hữu của A. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, A đã chuyển quyền sở hữu cho Trần Văn C. Một thời gian sau, TAND tỉnh Y đã xét xử lại bản án trên của TAND huyện X và tuyên bố: quyền sở hữu căn nhà trên thuộc về B, bản án của TAND huyện X là không có căn cứ pháp luật. Hỏi: Anh B có được đòi lại tài sản của mình từ anh C hay không? vì sao

Theo quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

"Điều 256. Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này."

Như vậy, trong trường hợp này, C là người được xác định là người chiếm hữu ngay tình nhưng không có căn cứ pháp luật. Như vậy, dựa vào căn cứ trên, B có quyền dùng bản án của Tòa án để yêu cầu C phải trả lại quyền sở hữu căn nhà này. Theo đó, A có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho C số tiền mà A đã nhận từ C.

Thưa luật sư. Tôi là người được thi hành án. Bản án của tôi đã có hiệu lực và cũng đã được cưỡng chế kê biên tài sản. Tuy nhiên ng bị thi hành án hiện tại chỉ còn một căn nhà duy nhất và ng bị thi hành án đã có âm mưu chuyển nhượng quyền sử dụg cho con trai mình nhưng không thành và hiện tại đã chuyển thành giấy ghi nợ bằng tay và cũng đang khởi kiện tại tòa án nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó ng bị thi hành án cố tình trì hoãn làm chậm quá trình thi hành án. Vậy trong trường hợp như thế này tôi phải làm như thế nào ạ.

Theo quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung 2014 thì:

"Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

a) Phong toả tài khoản;

b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản."

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh và có các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Nếu họ đã thực hiện xong việc tẩu tán này, thì sẽ bị xử lý như sau:

Theo quy định của Nghị định 110/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính bổ trợ tư pháp thì:

"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;"

Và hình phạt bổ sung theo quy định này là buộc thu hồi tài sản đã bị tẩu tán.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật Dân sự.