Công văn này cty a nhận được vào ngày 10/2/2018 và cũng chính ngày10/2/2018 cty b thay đổi ý định và gửi ngay 1 công văn thứ 2 theo đường hoả tốc: chúng tôi chấp nhận mua 800kg mực trên với giá 800k/kg. Công văn này cty a nhận được vào ngày 13/2 nhưng ngày 14/2 cty a đã bán toàn bộ số mực trên cho cty c. Hỏi: cty b có thể bắt cty a bồi thường thiệt hại được hay không ?

Cảm ơn luật sư!

Người gửi : L.M.K

Luật sư trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật dân sự 2015

2. Nội dung tư vấn:

Trong các hình thức trách nhiệm dân sự trong hợp đồng dân sự thì phạt vi phạm hợp đồng; bồi thường thiệt hại (BTTH) hợp đồng là những hình thức trách nhiệm thông dụng nhất. Đây là hình thức trách nhiệm dân sự do các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng, nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. 

Phạt vi phạm hay còn gọi là phạt vi phạm hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm trong hợp đồng trong thương mại căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, và không quá 8% hoặc 12%.

Vi phạm hợp đồng là hành vi một bên vi phạm (một hoặc nhiều) nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Trong trường hợp của công ty A và Công ty B, hai công ty đã có giao kết về vấn đề mua bán hàng hóa, nhưng theo thông tin bạn đưa ra thì chưa có hợp đồng cụ thể.

Công ty A có thông báo rằng nếu cty B muốn mua hàng của cty A thì phải trả lời trước ngày 5/2/2018 và nếu đông ý mua thì cty A sẽ giao hàng vào ngày 17/2/2018. Ngày 3/2/2018, cty B đã gửi công văn phúc đáp và có điều chỉnh lại giá cả thỏa thuận, hoàn toàn đúng theo thỏa thuận về thời gian trả lời thư. Có thể thấy, hợp đồng đã được giao kết và bây giờ chỉ là cty A có đồng ý bán với giá 750k/kg như yêu cầu của cty B hay không thôi, nếu đồng ý thì cty A phải cho công văn phúc đáp lại.

Nhưng đến tận 10/2/2018, cty A mới nhận được thư của cty B, nghĩa là theo cty A, vì cty B đã trả lời chậm công văn quá ngày 5/2/2018 nên coi như không có giao kết hợp đồng. Không có nghĩa vụ chuyển giao hàng cho cty B. Nhưng vấn đề ở đây, tại sao cty B không kiểm tra xem tại sao không có công văn phúc đáp của cty A rằng đồng ý giao kết hợp đồng, tại sao công văn lại đến trễ tận 7 ngày như thế. Nếu như đúng là ngày 10/2 cty A mới nhận đc công văn của cty B thì cty B đã vi phạm thời gian giao kết, có thể do lỗi gì đó. Nhưng 2 bên công ty đều không xác thực vấn đề này.

Vậy cho nên, công văn sau này cty B thay đổi về mức giá khi đồng ý mua với giá 800k/kg không có ý nghĩa gì. 

Điều cũng cần xem xét, là tại sao quá ngày hẹn là ngày 5/2/2018, cty A không nhận được phúc đáp từ cty B mà vẫn không có thư gửi đi để hỏi lại về vấn đề giao kết, có đồng ý giao kết hợp đồng không. xác nhận xem thư có được gửi đến cty B không.      

Việc cty A bán toàn bộ số hàng cho cty C vào ngày 14/2 là hợp lý, vì hợp đồng giữa cty A và cty B vẫn chưa được giao kết, có thể hiểu, thư trả lời đến trễ 7 ngày, quá thời hạn giao hẹn mà không có lý do nên ngày 17/2, cty A không có nghĩa vụ chuyển hàng, vì hợp đồng chưa giao kết nên cty A có quyền bán số hàng cho cty khác. Không được coi là vi phạm hợp đồng. Và cty A không phải bồi thường thiệt hại cho cty B.

Trường hợp cty B gửi thư phúc đáp ngày 3/2, tức vẫn đúng như thời gian hẹn trong công văn của cty A, nhưng do lỗi của cty A về vấn đề gì đó mà không nhận được mail, hoặc nhận đc đúng hẹn nhưng lại nói là quá hẹn thì cần kiểm tra lại thời gian để xác nhận xem, lỗi là do bên nào, nếu do bên A thì bên A phải bồi thường cho cty B. Nhưng trong công văn gửi đi, phải có quy định về vấn đề vi phạm hợp đồng hay vi phạm thời gian giao kết hợp đồng thì sẽ bị phạt với mức bao nhiêu, là sự thỏa thuận giữa 2 bên, nhưng cần phải có sự xác nhận rõ ràng, con dấu kèm theo.

Điều 418 BLDS năm 2015, quy định về thỏa thuận phạt vi phạm:
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”

Hoặc vấn đề về đường truyền thông tin, khiến thư phúc đáp không đến kịp, thì hai bên cty phải gặp trực tiếp thương lượng về vấn đề này để bàn bạc lại.

Cty B cũng nên dự trù sẵn những nơi khác có thể mua hàng nếu như không thể giao kết hợp đồng với cty A.

Điều quan trọng là nghĩa vụ chứng minh của bên bị vi phạm để được áp dụng chế tài đã thỏa thuận. Không chỉ phải chứng minh tồn tại hành vi vi phạm mà còn phải chứng minh được rằng có thiệt hại thực thực tế xảy ra, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại; mức độ tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đồng thời, bên yêu cầu BTTH phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê