Đưa ra truy tố Cơ quan công an kinh tế tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"? được không Và có chắc được nhận lại số tiền gốc không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự  của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp lý:

 

Bộ Luật Dân sự 2005

Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

Nội dung phân tích:

Về thắc mắc đầu tiên của bạn cho vay với lãi suất 36%/năm có phải cho vay nặng lãi hay không? tôi xin được giải đáp như sau:

 Tại Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội cho vay nặng lãi như sau: 

"1.Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội  thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng  đến ba năm.

3. Người phạm tội  còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Và tại thời điểm năm 2014 lãi suất ngân hàng nhà nước là 9%/ năm

--> Căn cứ vào quy định nêu trên bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi nếu như bạn cho vay với lãi suất cao hơn mức lãi suất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên, cụ thể nếu bạn cho vay với mức lãi suất từ 90%/ năm trở lên thì sẽ là cho vay nặng lãi. Trong trường hợp này bạn cho vay với mức lãi suất là 36%/ năm, do vậy bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lại.

Tuy nhiên, tại Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: 

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ"

Tại thời điểm bạn cho vay, mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước ban hành tại thời điểm đó là 9%/năm. Căn cứ theo quy định trên thì lãi suất cho vay của bạn không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, tức là bạn chỉ được cho vay với mức lãi suất tối đa là 9x150%= 13.5%. Trong trường hợp này khi bạn cho vay với mức lãi suất là 36%/ năm ,tuy sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vể tội cho vay nặng lãi nhưng bạn có thể sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi cho vay với mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật như vậy.

Về thắc mắc thứ hai, khi người vay đã làm giấy vay tiền theo mức lãi xuất trên mà không có khả năng trả tiền gốc và lãi cho mình, cứ khất lần này đến lần khác, thì nên làm gì? Đưa ra truy tố Cơ quan công an kinh tế tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"? được không Và có chắc được nhận lại số tiền gốc không? tôi xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, tại Khoản 1 Điều 139 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ban năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

Căn cứ vào quy định nêu trên thì hành vi không trả được nợ của người vay tiền không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì hai bạn đã kí kết hợp đồng cho vay một cách hợp pháp, khi kí kết hợp đồng người vay không sử dụng thủ đoạn gian dối để kí hợp đồng vay nhằm chiếm đoạt số tiền vay của bạn, tức là người vay không lừa bạn để ký hợp đồng nhằm chiếm đoạt số tiền đó mà người đó chỉ không có khả năng trả nợ sau khi kí kết hợp đồng vay, do đó  hành vi này không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Do đó người vay không thể bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, nếu như bạn và người vay không thỏa thuận được về việc trả tiền gốc và lãi, và bạn muốn khởi kiện để đòi lại số tiền vay đó thì bạn nên khởi kiện ra tòa theo thủ tục tố tụng dân sự để kiện đòi tài sản. Và khi bạn khởi kiện ra tòa như vậy thì căn cứ theo Điều 467 Bộ luật dân sự quy định về Lãi suất như đã phân tích ở trên thì bạn chỉ được pháp luật đảm bảo lợi ích trong phạm vi mức lãi suất cao nhất là 13,5%/năm ( không vượt quá 150% của mức lãi suất mà Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm đó là 9%/năm). Như vậy khi khởi kiện ra tòa thì người vay chỉ có nghĩa vụ trả cho bạn số nợ gốc và tiền lãi trên số nợ gốc đó với lãi suất là 13,5%/năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư dân sự.