Năm 2000 do mâu thuẫn gia đình A bỏ vào tp HCM sống và về sống chung như vợ chồng với Bà C, có con chung với bà C là T (sinh 2002). Tài sản chung của A và B là 1.2 tỷ, tài sản chung của A và C là 400 triệu. X kết hôn 2002, có 1 con là X1 (sinh 2002). Năm 2002 X chết, năm 2003 A chết. anh chị hãy chia tài sản của A trong các trường hợp sau: 1.A chết không để lại di chúc 2.A chết để lại di chúc là toàn bộ tài sản chia đều cho C và T có thể trả lời em trong hôm nay được không em xin cảm ơn nhiều.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Quyền thừa kế tài sản ?

Luật sư tư vấn về pháp luật dân sự, gọi: 1900 6162

 

Nội dung trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung tư vấn:

Trước tiên, ta cần xác định số tại sản mà A sở hữu. Theo những thông tin bạn cung cấp, tài sản chung của A và B là 1.2 tỷ, tài sản chung của A và C là 400 triệu. Do đó, tổng tài sản của A bao gồm một nửa số tài sản chung của A và B cộng với một nửa số tài sản chung của A và C, cụ thể là 600 triệu + 200 triệu là 800 triệu.

  • Trường hợp A chết không để lại di chúc:

Nếu A không để lại di chúc thì việc chia di sản sẽ tiến hành theo quy định của pháp luật.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

A có quan hệ hôn nhân với B và quan hệ này vẫn còn tồn tại kể cả trong trường hợp A và B không còn chung sống nên A được hưởng thừa kế. C tuy sống chung với B như vợ chồng nhưng quan hệ này không được pháp luật bảo vệ và công nhận nên C không được hưởng thừa kế.

Như vậy, những người được hưởng thừa kế bao gồm: B, X, Y, Z và T; những người này cùng thuộc hàng thừa kế đầu tiên và hưởng phần di sản bằng nhau. Mỗi người được hưởng 800/5= 160 triệu.

Do X đã chết trước A nên quyền thừa kế của X chuyển cho con là X1 theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự 2005.

Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

  • Trường hợp A chết để lại di chúc là toàn bộ tài sản chia đều cho C và T

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005:

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc  

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.