Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Nghị định 96/2014/NĐ-CP

- Quyết định 130/2003/QĐ-TTg

- Chỉ thị số 34 về tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 của Thủ tướng Chính phủ

2. Luật sư tư vấn:

2.1. Sử dụng, buôn bán bao lì xì in hình tiền là vi phạm pháp luật

Theo Quyết định 130/2003/QĐ-TTg quy định những hành vi bị cấm bao gồm:

- Làm tiền giả, vận chuyển, tàng trữ, lưu hành, mua, bán tiền giả;

- Hủy hoại tiền Việt Nam bằng bất kỳ hình thức nào;

- Sao chụp tiền Việt Nam với bất kỳ mục đích nào không có sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước;

- Từ chối nhận, lưu hành đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành trong lãnh thổ Việt Nam.

Theo đó, việc in hình tiền Việt Nam lên các bao lì xì thuộc một trong các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ tiền Việt Nam.

Tiền Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích lưu thông và thanh toán, không phải để mua bán. Các hành vi sử dụng tiền trái với mục đích này đều vi phạm pháp luật và bị xử phạt.

Việc sử dụng các bao lì xì in hình tiền Việt Nam cũng không ngoại lệ, thậm chí, việc này còn bị xử phạt nặng, theo khoản 4 Điều 31 Nghị định 96/2014/NĐ-CP thì hành vi sao chụp, in ấn, sử dụng bố cục, một phần hoặc toàn bộ hình ảnh, chi tiết, hoa văn của tiền Việt Nam không đúng quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 40 triệu đồng - 80 triệu đồng.

Ngoài ra, người có hành vi vi phạm còn phải nộp vào ngân sách Nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do buôn bán bao lì xì in hình tiền.

2.2. Đổi tiền lẻ mới có lấy phí Tết 2019 có bị xử phạt

Luật sư cho tôi hỏi, tôi không phải ngân hàng hay công ty tài chính nhưng Tết năm nay 2019 tôi có đổi được một ít tiền lẻ nguyên thếp, sau đó tôi đổi lại có lấy phí 10% thì tôi có làm trái pháp luật không, có bị vi phạm gì không ạ? nhờ luật sư tư vấn giúp, xin cảm ơn!

Hàng năm, trước dịp Tết âm lịch và mùa lễ hộii nhu cầu đổi tiền lẻ để mừng tuổi và đi lễ lại gia tăng, nhiều đối tượng lợi dụng điều này để kiếm lời. Còn hơn một tháng nữa là dịp Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2019 tuy nhiên trên mạng xã hội đã tràn lan dịch vụ đổi tiền lẻ. Hình thức đổi tiền như vậy không bao giờ ngang giá mà người đi đổi tiền luôn luôn mất một khoản “phí” nhất định, thường là từ 20-40%, thậm chí là 70-80% tùy thuộc vào mệnh giá của số tiền họ cần đổi.

“Dịch vụ” đổi tiền mệnh giá thấp để hưởng chênh lệch là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể, theo Điểm a Khoản 5 Điều 30 Nghị định 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, quy định: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Thực hiện đổi tiền không đúng quy định của pháp luật”. Như vậy, dịch vụ đổi tiền lẻ là hành vi trái pháp luật và bị nghiêm cấm. Nếu người nào thực hiện các hành vi đổi tiền không đúng quy định như: đổi tiền có phí, đổi tiền không đúng mệnh giá, đổi tiền không bằng giá trị… thì bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Mức phạt này áp dụng cho các cá nhân vi phạm; tổ chức vi phạm bị phạt gấp 02 lần.

Ngân hàng Nhà nước là đơn vị sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng như công an, quản lý thị trường… kịp thời phát hiện và xử lý.

Ngân hàng Nhà nước cũng cần yêu cầu các đơn vị trực thuộc phối hợp với Chi cục Quản lý thị trường, công an thành lập các đoàn kiểm tra để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật các trường hợp kinh doanh tiền mệnh giá nhỏ trái phép tại khu di tích, đền chùa, lễ hội hoặc kinh doanh đổi tiền trên mạng.

Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ cũng như mục đích, thủ đoạn của hành vi vi phạm, đối tượng mở “dịch vụ” đổi tiền lẻ nhưng sau đó bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê