1. Tai nạn giao thông giữa xe máy và xe đạp ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em là sinh viên, làm thêm công việc giao hoa tươi vào buổi sáng. Lúc 6h trên đường đi, em vô ý đụng phải 1 cụ già 66 tuổi. Tình huống thế này: em điều khiển xe máy đi đúng phần đường, bà cụ ở trong hẻm điều khiển xe đạp đi ra. Vì bất ngờ nên em không dừng lại kịp, em lách ra, đụng vào đầu xe đạp (không đụng trực tiếp bà cụ) nhưng bà cụ bị ngã và chấn thương sọ não, tụ máu bầm trong não. hiện giờ vẫn đang hôn mê. 

Cho em hỏi:

1) Tình huống như vậy là lỗi của ai?

2) Nếu bà cụ mất thì em có phải chịu trách nhiệm gì không ? Có phải bồi thường thiệt hại ? Và mức bồi thường là bao nhiêu?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.A.T

Tai nạn giao thông giữa xe máy và xe đạp ?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1. Xác định lỗi khi xảy ra tai nạn giao thông

Điều 308 Bộ luật dân sự 2005  (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự: 

"1. Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được."

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật thì bạn và bà cụ đều có lỗi vô ý. Yếu tố vô ý trong lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể hoàn toàn không có chủ ý gây thiệt hại cho xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước được thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện hành vi đó nhưng cho rằng thiệt hại đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

 

2. Trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự  và trách nhiệm bồi thường của người gây ra tai nạn

* Trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự

Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

"Điều 202.  Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Mặt khác, Điều 2 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC có quy định về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt như sau:

"Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

2. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 3 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết hai người;

b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

3. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 204; khoản 3 các điều 202, 203, 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220, Điều 222, Điều 223; khoản 4 các điều 206, 207, 216, 218, 219 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết từ ba người trở lên;

b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;

g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên."

Như vậy, theo quy định của pháp luật, bạn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Khoản 1 Điều 202 khi gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác (được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC). Hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 202 BLHS khi người gây tai nạn không có giấy phép (bằng lái xe) theo quy định hay khi người gây tại nạn không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển (hướng dẫn giao thông) dẫn đến gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác.

* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Điều 623 BLDS quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này, bạn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Như vậy, bạn có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của người bị thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 605 của Bộ luật Dân sự về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

>> Xem thêm: Gây tai nạn giao thông cần bồi thường những chi phí nào ?

2. Tư vấn quy định của luật giao thông đường bộ trường hợp nào bị tạm giữ phương tiện tai nạn giao thông ?

Kính thưa luật sư. Tôi muốn luật sư tư vấn giúp 1 nội dung liên quan đến thời hạn tạm giữphương tiện tai nạn giao thông như sau: theo quy định tại khoản 8 điều 125 luật xlvphc thì thời hạn tạm giữ phươngtiện là 7 ngày và được gia hạn không quá 30 ngày và lần 2 là 30 ngày trongmột số trường hợp. 
Theo thông tư 77/2012/tt-bca thì việc tạm giữ phươngtiện liên quan đến tngt được quy định là phương tiện liên quan đến tngtphải được tạm giữ để giải quyết và csgt phải trả phương tiện ngay sau khikhám nghiệm xong, xác định người điều khiển không có lỗi. Tuy nhiên cũngtheo thông tư 77/2012/tt-bca thì thời hạn giải quyết tngt là 10 ngày và cóthể gia hạn không quá 30 ngày, lần 2 là 30 ngày.
Như vậy phải sau khi cókết luận điều tra tngt thì mới có căn cứ xác định người điều khiển có viphạm hay không để quyết định việc trả phương tiện. Nếu có vi phạm thì mớiáp dụng khoản 8 điều 125 luật xlvphc là tạm giữ 7 ngày. Tôi hiểu như vậy có đúng không ?
Mong luật sư trả lời. Cảm ơn luật sư.
- Huy Hàn

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

3. Gây tai nạn giao thông có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật hình sự về việc khi nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự về xảy ra các vụ tai nạn giao thông: 

Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Chào Luật Sư.Năm nay em 23 tuổi nhưng khoảng 1 tuần trước em có va quẹt giao thông với người khác nhưng sau đó em dựng xe lên bỏ đi do hoảng loạng chạy về nhà,vì sợ gia đình biết nên em mới nói là té xe.Qua ngày thứ 2 bên CAGT mời em lên giải quyết và em đã trình bài và nhận lỗi của mình.Bên CA có kêu gia đình em qua bên gia đình người bị nạn thoả thuận về chi phí thuốc men.Bên gia đình người bị nạn chỉ bị trầy xước ngoài da nhưng bên đó nói đợi bên phía CA mời giải quyết như thế nào.Như vậy em có bị truy cứu và phạt tù không.Mong Luật Sư phản hồi sớm cho em.

=> Nếu như việc va quệt gây thiệt hại cho người đó không phải do bạn vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu bạn vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông gây thiệt hại cho người khác thuộc các trường hợp:

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; 

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Theo Bộ luật Hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009thì bạn có thể bị truy tố TNHS theo quy định:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trường hợp phạm tội này không thuộc các tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Do đó, kể cả người bị thiệt hại không yêu cầu thì bạn vẫn có thể vị truy cứu TNHS.

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi viết bài này hỏi hội luật sư Việt Nam tôi làm phó chủ tịch UBND xã đã làm sai chế độ thủy lợi phí trị giá 15 triệu đồng nhưng thanh tra của huyên đã cùng UBND huyện yêu cầu tôi nội tiền vào nhưng tai sao ra tòa án nhân dân huyên áp tôi vào điều 278 bộ luật hình sự bị đi tù 5 năm, thế số tiền tôi đã làm sai trái vậy tôi nội vào kho bạc nhà nước 15 triệu nhưng viện kiểm sát không chấp nhận và đưa dôi vào làm sai trái nhiều lần, nhưng tôi là chủ tài khoản của thủy lợi phí nhưng lại không có tài liệu để tham khảo vậy tôi đã vi phạm nhưng tôi đã đền bù trả cho nhà nước xong nhưng vẫn bị ép vào điều 278 khoản a tại sao vậy ?

BLHS quy định như sau:

Điều 278. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, bạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý giá trị 2 triệu trở lên. Việc bạn hoàn trả lại số tiền chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ còn bạn vẫn bị truy cứu TNHS.

Chào anh ạ. Vừa rồi anh của em có bị công an bắt. Vẫn đang trong quá trình điều tra. Về việc mua bán thuốc lắc. Chưa biết là nhiều lần hay chưa, nhưng anh của em mua hàng từ nước ngoài và về bán ra cho các tỉnh. Bị phát hiện và bắt là khoảng hơn 40 viên thuốc lắc. Và có 4, 5 đồng phạm; đã có giấy báo về nhà gọi luật sư nhưng anh của em thì chưa. Em xin hỏi là nếu bị phạt thì sẽ nằm ở mức tù nào, vì em nghe nói có sửa đổi ở năm 2015. Em cảm ơn anh nhiều.

=> BLHS hiện hành quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, căn cứ vào khối lượng và mức độ phạm tội, Tòa án sẽ quyết định khung hình phạt tương ứng. Vì bạn không cung cấp đủ các thông tin cần thiết như khối lượng, anh bạn có phạm tội lần nào khác không, có tiền án không,... nên chúng tôi khó có thể xác định chính xác khung hình phạt. Dó đo, bạn xem xét quy định trên và tìm ra mức phạt thích ứng cho anh của bạn.

Thưa luật sư, Con có mâu thuẫn từ lâu với người ta rồi người ta hẹn con ra giải hoà .mà con đâm người ta rồi người ta móc mã tấu với bình xịt hơi cay và dao bấm ra chém con nhưng không bị nặng chỉ bị đức nhẹ ngón tay nhưng người ta bị lủng phổi phải mổ .bây giờ người ta kiện con . Cho con hỏi con có đi tù không mà có thì bao nhiêu năm . Làm cách nào để con không đi tù ,luật sư giúp con

BLHS quy định:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Như vậy, còn tùy vào giám định tỷ lệ thương tật mới xác định được khung hình phạt của bạn.

Với thương tật nặng như vậy, khó có thể có trường hợp bạn không phải đi tù, trừ khi bạn chưa đủ tuổi chịu TNHS hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự.

Ngày 19/9/2016 Anh trai em đang lái xe thuê cho 1công ty. Khi tham gia giao thông trên đường thì có 1 người phụ nữ lai con nhỏ đang nghe điện thoại đi cùng chiều bằng xe máy và lao vào xe. Người phụ nữ bị chui vào gầm chết ngay tại chỗ còn cháu nhỏ thì văng ra ngoài và không sao. Khi CA đến hiện trường kiểm tra thì Anh trai em tham gia đúng luật và chạy với vận tốc 29km/h. Hiện Anh trai em đang bị tạm giam tại C.A ở đó đến giờ. Vậy em xin hỏi là Anh trai em sẽ phải chịu những tội danh gì trong vụ tai nạn đó và sẽ phải bồi thường cho gia đình nạn nhân theo luật là bao nhiêu tiền . và Anh trai em có phải bị tù giam không ạ. Em xin chân thành cảm ơn các luật sư đã giải đáp thắc mắc của em!

Nếu anh trai bạn không vi phạm luật giao thông, sự kiện này không có lỗi của anh bạn thì không phải chịu TNHS và không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:   Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông thực hiện như thế nào ?

4. Tư vấn pháp luật về tai nạn giao thông (TNGT) khi cả hai bên đều có lỗi ?

Xin luật sư tư vấn dùm trường hợp tai nạn giao thông như sau. 

Tôi lưu thông trong đường nội ô 1 kcn hướng từ trong ra ngoài và từ trái sang phải va chạm với xe moto lưu thông từ ngoài vào trong thông theo phía trái,đường kcn này là đường 1 chiều ở giữa có con lương,nhưng do sửa chữa 1 bên nên mọi người đều lưu thông theo hướng phải cho việc ra vào, coi như đường 1 chiều thành 2 chiều,khi va chạm thì do người kia bị thương ở chân và cả 2 thỏa thuận giải quyết ko gọi giao thông nên tôi dùng xe chở người đó đi cấp cứu, nhưng người dân gọi giao thông đến lập hiện trường lúc tôi vắng mặt, giờ bên giao thông gọi lên hòa giải nhưng không thành,người bị thương đó không có gplx,lúc tôi va chạm cũng có uống ít rượu bia,nhưng lúc giao thông lặp biên bản thì không có đo nồng độ cồn của tôi vì vắng mặt,và biên bản cũng không có chỉ số nồng độ cồn, xin hỏi nếu hòa giải không thành mà ra tòa thì hình phạt 2 bên như thế nào, và mức phạt và đền bù bao nhieu. Tôi lấy xe liên quan tai nạn đua người bị thương đi cấp cứu và cũng bị thương nên không quay lại hiện trường lúc lặp biên bản,giao thông báo lỗi tôi là rẽ vào đường ưu tiên không quan sát,và xin hỏi là đường nội ô như vậy được tính là 1 chiều hay 2 chiều,vì vẫn còn bản báo 1 chiều mà không có biển cấm lưu thông,chỉ rào 1 đoạn cổng vào. Xin cảm ơn.

Người gửi : Bao

- Bao

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

5. Xử phạt khi gây tai nạn giao thông đường bộ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề muốn được giải đáp: Xin cho tôi hỏi tôi không chú ý quan sát nên để xảy ra tai nạn giao thông. Vậy tôi vi phạm điều bao nhiêu, khoản gì của luật giao thông đường bộ? Xin cám ơn!

Mức phạt hành chính khi gaai tai nạn ?

Mức phạt hành chính khi gây tai nạn, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Khoản 7 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt   quy định:

 "7. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ."

Như vậy, theo quy định trên thì nếu như bạn  không chú ý quan sát mà để xảy ra tai nạn giao thông thì sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

>> Xem thêm:  Vi phạm tai nạn giao thông gây hậu quả chết người xử lý ra sao?

6. Người gây tai nạn giao thông phải bồi thường như thế nào?

Thưa Luật sư, người em của em bị tai nạn giao thông khi đi bộ trong bến xe miền đông và phải nhập viện cưa mất bàn chân. Lỗi hoàn toàn do bên nhà xe. Vậy cho em hỏi em của em được đền bù như thế nào? Em của em là lao động chính và có 2 đứa con nhỏ. Xin chân thành cảm ơn Quý công ty Luật Minh Khuê. 

Người gây tai nạn giao thông phải bồi thường như thế nào?Tai nạn giao thông giữa xe máy và xe đạp ?

Luật sư tư vấn hình sự về tai nạn giao thông gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Người gây tai nạn có thể phải chịu các chế tài sau đây:

Thứ nhất, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bộ luật dân sự 2005 có quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm này tại điều 604 như sau:

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. 2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Trong trường hợp này, có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật của nhà xe, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của nhà xe với thiệt hại của em bạn, cho nên có đầy đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Mức bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, cụ thể bao gồm các chi phí sau đây:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm. Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Thứ hai, về trách nhiệm hình sự

Theo điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định hành vi này như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, ngoài việc phải bồi thường cho em bạn theo chế tài dân sự thì người gây ra tai nạn còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự như đã nêu trên.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê