1. Tai nạn giao thông tại vòng xuyến, ai sai ai không sai ?

Thưa luật sư, Tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường ưu tiên và không ưu tiên, phía hai đầu đều có biển báo nhưng trong ngã tư không có vòng xuyến và vạch vôi kẻ đường. 

Có 1 ông già điều khiển xe mô tô đi từ đường không ưu tiên tới. Khi bắt đầu vào mép vòng xuyến thì phát hiện có 1 xe mô tô do 1 người thanh niên điều khiển cách xe ông già khoảng 100m về phía tay phải. Khi ông già vào mép ngã tư thì người thanh niên chưa tới. Khi ông già gần sang hết phần đường tiếp của mình thì xe người thanh niên đã đâm vào sườn phải xe của ông già gây tai nạn giao thông ( cả 2 xe đều đi thẳng không chuyển hướng, ông già đi rất chậm và khi vào ngã tư thì ngập ngừng, người thanh niên thì đi rất nhanh và vào vòng xuyến không giảm tốc độ, phần đường của ông già rộng 5m và của người thanh niên rộng 7,2m). Hỏi ai sai ai đúng?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.N.M

Em muốn hỏi trong vụ tai nạn giao thông này ai sai ai không sai ?

Luật sư tư vấn pháp luật giao thông, gọi:1900.6162

 

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn công ty chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau.

Căn cứ vào điều 24 Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau.

Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

1. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải;

2. Tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi bên trái;

3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.

Ta cần thấy rõ trong tình huống này theo quy định của pháp luật cụ thể là theo điều 24 luật giao thông đường bộ thì người điều khiển phương tiện giao thông phải giảm tốc độ nhưng theo những gì anh cung cấp thì người thanh niên khi vào đoạn đường giao nhau đã không giảm tốc độ. 

Tại nơi đường giao nhau( tức ngã tư) giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên thì người điều khiển xe đi từ đường không ưu tiên phải nhường đường cho người điều kiển đi từ đường ưu tiên trong trường hợp này bạn có đề cấp tới việc ông cụ đi từ đường không ưu tiên vào thì theo quy định thì phải nhường đường cho xe ưu tiên.

Ở đây ta có thể thấy việc người thanh niên khi đi vào phần đường giao nhau đã không giảm tốc độ nên đã gây ra tai nạn và không tuân thủ nguyên tắc khi tham gia thông và có lỗi trong tình huống này.

Về phần phía " ông già" thì khi vào đoạn đường giao nhau có giảm tốc độ, mặc dù ông đi từ phần đường không ưu tiên và có nghĩa vụ nhường đường cho phương tiện đi từ đường ưu tiên nhưng do thấy người thanh niên này ở các quá xa mà tại nơi đường giao nhau lại không có đèn giao thông nên việc ông đi vào phần đường giao nhau trước là hợp lý.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm: Gây tai nạn giao thông cần bồi thường những chi phí nào ?

2. Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông do uống rượu bia say và chạy quá tốc độ ?

Dạ e chào luật sư ạ, em tên vinh là sinh viên năm 4 ngành sư phạm thể dục, trên đường em đi làm thêm về thì bị 1 thanh niên sinh năm 1993 có uống rượu bia chạy với tốc độ nhanh chạy qua làn đường bên em sau đó quay ngược về làn đường bên anh ta gây tai nạn cho em, làm e bị gãy 1/3 xương đùi phải. Từ khi gây tai nạn đến nay bên kia chỉ xuống nhà e 1 lần thương lượng bồi thường 50% chi phí khi e đã ở viện về nhà. Luật sư cho e hỏi nếu ra tòa thì tòa sẽ xử ra sao. E co nhận lại được chi phí điều trị hay không. Chi phí hiện tại là trên 40 triệu đồng, chân em bị gãy phải đống đinh nội tủy và 1 năm sau mới mổ ra, chi phí khi mổ lấy đinh ra khoảng 17 triệu đồng.
Rất mong luật sư tư vấn giúp em. E xin cám ơn luật sư ạ.
- Nguyễn Phước Vinh

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

3. Tư vấn xác định trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em có người anh đi bộ qua đường không đúng nơi quy định nên bị xe máy đụng. Xe máy đó cũng chạy không đúng làn đường và chạy quá tốc độ cho phép sau khi gây tai nạn người điều khiển xe máy không bị gì còn anh của em thì bị gãy chân. Như vậy trường hợp này thì xử phạt như thế nào ạ ? Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Khoản 4; Khoản 6 và Khoản 10 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định: 

"4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

b) Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe;

c) Khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước khi tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép;

e) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;

h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế;

m) Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm m Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng;

c) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm e Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi quy định tại Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng, tịch thu phương tiện. Thực hiện hành vi quy định tại một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm g, Điểm h, Điểm o Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm m Khoản 4; Điểm b, Điểm d Khoản 5;

d) Thực hiện hành vi quy định tại Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng."

Như vậy, theo quy định trên, người gây ra tai nạn giao thông sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng do có hành vi điều khiển xe đi không đúng phần đường, làn đường quy định (điểm g Khoản 4 Điều 6); phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng do có hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông (điểm c Khoản 6) và sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng (điểm c Khoản 10).

Mặt khác, Khoản 2 Điều 9 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định:

“ Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Mang, vác vật cồng kềnh gây cản trở giao thông;

b) Vượt qua dải phân cách; đi qua đường không đúng nơi quy định hoặc không bảo đảm an toàn;

c) Đu, bám vào phương tiện giao thông đang chạy.”

Như vậy, anh bạn cũng sẽ bị phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng do có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

>> Xem thêm:  Tư vấn về mức xử phạt hành chính khi gây tai nạn giao thông theo luật ?

 

4. Hình thức xử lý đối với người gây tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em đi quá tốc độ cho phép gây tai nạn cho 1 người đang đi sang đường ngược chiều với em . Em đã bấm còi tín hiệu những người đó vẫn sang khiến em xử lý không kịp, dẫn đến em đã đâm vào đầu xe người đó khiến người đó phải mổ đầu gối. Vậy lỗi của em có thể bị xử lý theo pháp luật như thế nào ? 

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.N.S

Hình thức xử lý đối với người gây tai nạn giao thông ?

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn lái xe chạy quá tốc độ gây tai nạn giao thông. Nhưng thông tin bạn cung cấp thì không nói rõ về phương tiện giao thông của bạn là phương tiện gì nên bạn có thể tham khảo quy định dưới đây về mức xử phạt cụ thể. Theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP có quy định:

"Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

...

7. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

... ...

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ..."

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

...

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

... ... ...

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở."

Ngoài ra theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác như sau;

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Ngoài ra nếu thiệt hại đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 BLHS 1999 như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ \

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà háp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi 1900.6162

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về cách thức xử lý và giải quyết tai nạn giao thông ?

5. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông ?

Tôi có thuê một tài xế để lái xe cho công ty, một lần đang trên đường chở hàng từ công ty đến kho của khách hàng, tài xế đó có gây tai nạn giao thông. Cơ quan công an đã xác định là tai nạn xảy ra do lỗi của tài xế. Vậy tôi xin hỏi trong trường hợp này tài xế hay công ty phải bồi thường? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: C.L

Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc của mình đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin mà chị cung cấp xin được tư vấn cho chị như sau:

Trong trường hợp này, phương tiện gây ra tai nạn này là ô tô, theo quy định của pháp luật dân sự và Điều 13 Luật giao thông đường bộ thì ô tô được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì vậy, việc bồi thường hại sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005. Theo đó, Điều 623 BLDS  có quy định về vấn đề này như sau:

“Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

Vì chủ sở hữu của chiếc xe này là công ty, nhưng công ty lại giao xe cho người tài xế này lái xe thông qua hợp đồng lao động, vậy trong trường hợp này, việc xác định trách nhiệm bồi thường được thực hiện Theo hướng dẫn tại khoản 1 Mục III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

“đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:

- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại.

- Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do đó, B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.”

Như vậy, trong trường hợp này, công ty chị thuê tài xế này thông qua hợp đồng lao động và trả tiền công cho người đó, do vậy người tài xế này được xác định là người lao động của công ty, không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó. Vì vậy, chủ sở hữu sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trên đây là những tư vấn của chúng  tôi về vấn đề của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông mới nhất

6. Trách nhiệm phải chịu khi vô ý gây tai nạn giao thông

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: chồng tôi lái xe ô tô tải gây tai nạn giao thông làm chết 1 người. Tình huống tai nạn là do người đó ngã trúng vào bánh xe cuối cùng và đập đầu xuống đường. Hiện công an đang điều tra và chưa có kết luận. 

Lúc đó chồng tôi có gọi chủ xe đến giải quyết và giao thông có đến làm biên bản hiện trường. Chồng tôi cũng phụ giúp đưa người bị tai nạn đi bệnh viện nhưng người ấy không qua khỏi. Anh ấy là lái xe thuê cho tư nhân và được trả lương hàng tháng.

Xin hỏi chồng tôi có phải chịu trách nhiệm bồi thường hay không và có chịu mức án nào không? Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê! Tôi rất mong nhận được lời tư vấn. Kính thư!

Người gửi: TN Tuyền

Trách nhiệm phải chịu khi vô ý gây tai nạn giao thông

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty. Về thắc mắc của bạn, Luật Minh Khuê xin được tư vấn như sau:

Trong tình huống xảy ra tai nạn giao thông này, nếu chồng của bạn không có lỗi trực tiếp gây ra tai nạn (ví dụ chồng bạn đang điều khiển xe và người bị nạn ngã vào xe chồng bạn do một va chạm khác), thì chồng bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại khoản 1 điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Nếu có lỗi trực tiếp gây ra nguyên nhân gây thiệt hại về tính mạng đối với người bị nạn, chồng bạn sẽ phải chịu hình phạt quy định tại điều này.

“ Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. ”

Theo khoản 1 điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông quy định về hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ tại khoản 1 điều 202 Bộ luật Hình sự, hành vi đó phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng của người bị nạn.

“ Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật Hình sự)

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản. ”

Về vấn đề bồi thường thiệt hại, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 và mục I phần I nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bao gồm các yếu tố: xảy ra thiệt hại, có lỗi và lỗi này trực tiếp gây ra thiệt hại, hành vi thiệt hại là trái với quy định của pháp luật.

Hành vi của chồng bạn đã gây thiệt hại đến tính mạng của 1 người, tuy nhiên chưa xác định được rõ khi lái xe chồng bạn có tuân thủ đúng luật giao thông  để trực tiếp dẫn tới thiệt hại hay không. Nếu đầy đủ các yếu tố trên thì chồng bạn sẽ phải bồi thường, theo quy định tại điều 610 Bộ luật Dân sự 2005 và mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. về xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

“ Điều 604 (Bộ luật Dân sự 2005). Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. ”

“ Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. ”

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê