Nhưng thời điểm đó ông B không biết nên đã không làm giấy tờ sang hẳn về tên mình. Đến bây giờ ông A đòi trả đất lại nhưng tôi nghĩ tài sản đã phát mãi làm gì có chuyện lấy lại. Tôi muốn hỏi việc này ai sẽ là người được quyền tiếp tục sử dụng đất này? Và cơ quan nào sẽ giải quyết định việc này?

Xin cảm ơn luật sư.

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn hoạt động phát mại tài sản, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

2. Nội dung tư vấn:

- Nếu ông B mua đất do ngân hàng phát mãi đất của ông A mà chưa sang tên:

Tại điều 355, 336, 338 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 355. Xử lý tài sản thế chấp  

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ  không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 336 và Điều 338 của Bộ luật này."

"Điều 336. Xử lý tài sản cầm cố  

Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố. "

"Điều 338. Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố  

Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó."

Như vậy, khi tài sản thế chấp của ông A đã được đem ra xử lý thì số nợ của ông A sẽ được thanh toán theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có, nếu tiền bán còn thừa thì ông A sẽ được trả lại số tiền đó.

Theo điểm c khoản 1 điều 99 Luật đất đai 2013:

"1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

...
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;"

Theo đó, ông B đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nên ông B được cấp Giấy chứng nhận. Nếu ông A muốn đòi lại đất thì phải mua lại từ ông B. Và ông B phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì mới có thể bán lại được cho người khác.

- Nếu ông B bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ cho ông A:

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bảo lãnh:

"Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

Điều 362. Hình thức bảo lãnh  

Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực. 

"Điều 367. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh  

Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác."

"Điều 350. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản  

Bên nhận thế chấp tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

1. Trong trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài sản thế chấp;

2. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký trong các trường hợp quy định tại các điều 355, 356 và 357 của Bộ luật này."

"Điều 357. Chấm dứt thế chấp tài sản  

Việc thế chấp tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt;

2. Việc thế chấp tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

3. Tài sản thế chấp đã được xử lý;

4. Theo thoả thuận của các bên."

Vậy, nếu tài sản thế chấp của ông A đang được ngân hàng phát mãi, có thể là chưa bán được và trong lúc đó ông B đã đứng ra bảo lãnh cho ông A. Khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thì ông B có quyền yêu cầu ông A thanh toán số nợ đó. Còn vê phía tài sản thế chấp thì là tài sản của ông A nên ông A vẫn có quyền đối với tài sản đó và có thể đòi lại từ ông B.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê