Em cám ơn!

Người gửi: Phạm Công

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bộ luật Dân sự năm 2005.

Nội dung phân tích:

Trong trường hợp này, bạn không trình bày rõ quyền sử dụng mảnh đất này vợ chồng bạn có được sau khi kết hôn hay có được trước khi kết hôn và người con của bạn bao nhiêu tuổi vì vậy chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

* Trường hợp 1: Quyền sử dụng đất có được trước khi kết hôn:

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Trong trường hợp này, mảnh đất mà chồng bạn có được trước khi kết hôn là tài sản riêng của chồng bạn, trừ trường hợp vợ chồng bạn có thỏa thuận khác. Sau khi mất chồng bạn không để lại di chúc vì vậy di sản mà chồng bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật, quy định tại khoản 1 điều 675 Bộ luật Dân sự:

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản"

Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, di sản của chồng bạn sẽ được chia cho bạn, các con, mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau. Đây sẽ là tài sản riêng của mỗi người, mỗi người có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình.

* Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn:

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung"

Trong trường hợp này, mảnh đất mà vợ chồng bạn có được sau khi kết hôn là tài sản chung của hai vợ chồng, vợ chồng có quyền ngang nhau trog việc sử dụng, chiếm hữu, định đoạt. Sau khi chồng bạn mất, về nguyên tắc mảnh đất sẽ được chia đôi, một nửa thuộc sở hữu của bạn, một nửa thuộc sở hữu của chồng bạn, phần sở hữu này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật tương tự như trường hợp một. Lúc này, bạn và con bạn mỗi người sẽ được một phần hai miếng đất từ chia thừa kế. Bạn chỉ có quyền định đoạt miếng đất thuộc về bạn.

* Về việc có hay không có sự đồng ý của con khi định đoạt tài sản:

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Dân sự thì cha mẹ là người đại diện hoặc giám hộ cho con nếu con chưa thành niên. Theo quy định tại điều 144 Bộ luật Dân sự thì:"Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác." Như vậy, bạn có quyền định đoạt tài sản riêng của con nếu việc định đoạt này phù hợp với lợi ích của con và việc định đoạt tài sản này phải xem xét nguyện vọng của con nếu con bạn trên 9 tuổi.

Nếu con bạn đã thành niên thì bạn không có quyền định đoạt tài sản riêng của con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.