1. Chồng tôi có con riêng với bồ, tôi dã đọc tham khảo qua mạng và được biết con riêng của chồng tôi sau này cũng được chia tài sản trong khối tài sản chung của chúng tôi. vậy nếu chồng tôi viết di chúc là để lại toàn bộ tài sản cho hai con tôi có được không.
2. Nếu chồng tôi không đồng ý viết di chúc thì tôi không cho đứng tên các tài sản khác là của hai vợ chồng sợ sau này lại phải chia có được không.
3. Trường hợp vợ chồng tôi chỉ đứng tên 1 căn nhà là của chung thì căn nhà đó có bắt buộc phải chia ko sau khi vợ chồng tôi mất. mà đứa con riêng đòi bán để chia còn hai con tôi không đồng ý thì có bắt buộc phải chia ko.
4. Trường hợp bố mẹ chồng tôi cho đất cho con cái nếu bố mẹ viết di chúc là cho tôi và hai con tôi mà không cho chồng tôi có được không. hoặc có cho mà cho ít có được không.
5. Trường hợp vợ chồng tôi có mua một mảnh đất của bà họ hàng nhà chồng tôi và tôi muốn bà sang tên cho hai con trai tôi có được không (1 cháu 8 tuổi và 1 cháu 13 tuổi)
6. Trường hợp tôi có tiền tiết kiệm là tiền mặt đứng tên tôi nhưng ko may tôi bị làm sao đó thì ai là người được hưởng số tiền đó. nếu tôi viết rõ lại là số tiền đó để cho hai con có được không.

Câu hỏi được biên tập từchuyên mụctư vấn luật dân sự  của Công ty Luật Minh Khuê.

Thắc mắc về chia thừa kế cho con riêng ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005. 

Luật hôn nhân gia đình 2014. 

Nội dung tư vấn :

1. Nếu chồng viết di chúc không để lại tài sản cho con riêng thì con riêng có được chia thừa kế không ?

Nếu chồn bạn viết di chúc để lại toàn bộ tài sản cho hai con của bạn thì người con riêng kia sẽ không được hưởng di sản nữa trừ trường hợp quy định tại Điều 669 LDS người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, nếu người con riêng đó là con chưa thành niên ( dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì kể cả chồng bạn để lại di chúc chỉ cho hai con của bạn người con riêng đó vẫn sẽ được hưởng di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế.

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc  

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

2.  Nếu chồng tôi không đồng ý viết di chúc thì tôi không cho đứng tên các tài sản khác là của hai vợ chồng sợ sau này lại phải chia có được không.

Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 LHNGĐ

"Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo đó tài sản chung của hai vợ chồng sẽ là tài sản cùng làm ra trong thời kì hôn nhân trừ các tài sản được quy định tại Điều 43 LHNGĐ sẽ là tài sản riêng của vợ chồng,như vậy đối với tài sản hai vợ chồng cùng làm ra trong thời kì hôn nhân kể cả bạn không cho chồng bạn đứng tên thì số tài sản này vẫn được xác định là tài sản chung việc đứng tên chỉ là đại diện đứng tên do đó số tài sản này vẫn sẽ được phân chia theo trường hợp chia tài sản chung mỗi người có phần quyền bằng nhau trong số tài sản này.

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

3. Trường hợp vợ chồng tôi chỉ đứng tên 1 căn nhà là của chung thì căn nhà đó có bắt buộc phải chia ko sau khi vợ chồng tôi mất mà đứa con riêng đòi bán để chia còn hai con tôi không đồng ý thì có bắt buộc phải chia không ?

Nếu vợ chồng bạn không để lại di chúc về việc phân chia số tài sản chung thì việc phân chia thừa kế sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của những người được hưởng thừa kế, trường hợp không thỏa thuận được sẽ được chia thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 676 LDS, theo đó người con riêng là con đẻ của chồng bạn có quyền được chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần tài sản thuộc sở hữu của chồng bạn, trường hợp hai con của bạn không đồng ý chia thì người con riêng vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản thuộc thừa kế của mình.

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

4. Trường hợp bố mẹ chồng tôi cho đất cho con cái nếu bố mẹ viết di chúc là cho tôi và hai con tôi mà không cho chồng tôi có được không. hoặc có cho mà cho ít có được không.

Người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng,con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, chồng bạn không thuộc một trong các trường hợp trên nên bố mẹ chồng bạn để lại di chúc cho bạn và hai cháu không cho chồng bạn hoàn toàn hợp pháp.
5. Trường hợp vợ chồng tôi có mua một mảnh đất của bà họ hàng nhà chồng tôi và tôi muốn bà sang tên cho hai con trai tôi có được không (1 cháu 8 tuổi và 1 cháu 13 tuổi)

Hai con của bạn đều chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trường hợp bạn muốn sang tên quyền sử dụng đất cho hai con cần phải có người đại diện theo pháp luật đứng ra thực hiện các giao dịch dân sự theo Điều 20 LDS : 

"Điều 20. Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi  

1. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Người đại diện cho hai con của bạn có thể là cha hoặc mẹ, trường hợp này bạn nếu làm hợp đồng tặng cho thì bạn sẽ vừa đứng bên tặng cho vừa đứng bên nhận tặng cho với tư cách là người đại diện cho hai con. Như vậy là vi phạm khoản 5 Điều 144 BLDS: “Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy nếu bạn muốn tặng cho hai con mảnh đất trên bạn có thể yêu cầu văn phòng công chứng lập cho bạn hợp đồng về việc cam kết tặng cho quyền sử dụng đất cho hai con trong tương lai, khi hai con đủ tuổi thành niên sẽ tiến hành các thủ tục sang tên quyền sử dụng đất.
6. Trường hợp tôi có tiền tiết kiệm là tiền mặt đứng tên tôi nhưng ko may tôi bị làm sao đó thì ai là người được hưởng số tiền đó, nếu tôi viết rõ lại là số tiền đó để cho hai con có được không.

Nếu số tiền tiết kiệm này không phải là tài sản hai vợ chồng cùng làm ra trong thời kì hôn nhân mà là tài sản bạn có được trước thời kì hôn nhân hay tặng cho riêng thừa kế riêng hay nói các khác là tài sản riêng của bạn theo quy định tại Điều 43 LHNGĐ nếu không may bạn bị làm sao đó mà không để lại di chúc hợp pháp số tiền này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật những người được hưởng bảo gồm chồng, cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ của bạn mỗi người được một phần bằng nhau. Đồng thời bạn hoàn toàn cố thể viết rõ di chúc để lại toàn bộ số tiền này cho hai con và hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Nếu số tiền này là tài sản chung của hai vợ chồng cùng làm ra trong thời kì hôn nhân theo Điều 33 LHNGĐ kể cả chỉ đứng tên một mình bạn thì bạn chỉ có quyền định đoạt đối với một nửa số tiền này, một nửa thuộc quyền của chồng bạn. Nếu bạn không may làm sao và không để lại di chúc thì một nửa số tiền này sẽ được phân chia theo pháp luật những người được hưởng bảo gồm chồng, cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ của bạn mỗi người được một phần bằng nhau, một nửa còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu của chồng bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.