Nay e đi đăng ký thế chấp cho nghĩa vụ doanh nghiệp thì bên cơ quan có yêu cầu trên phần hợp đồng thế chấp phải có số công chứng và số hợp đồng của nghĩa vụ cá nhân trên hợp đồng thế chấp của nghĩa vụ doanh nghiệp. Nhưng bên công chứng không thay đổi nội dung trên, bên ngân hàng em có một công văn cho khách hàng thực hiện nghĩa vụ doanh nghiệp và thể hiên số hợp đồng cá nhân lên công văn. Vậy cho em hỏi bên ngân hàng em có thực hiên đúng và bên cơ quan pháp lý có từ chối đăng ký cho bên ngân hàng em không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời: 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật dân sự năm 2005

Nghị định số 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm

2. Nội dung tư vấn:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 324 Bộ luật dân sự năm 2005 thì : "Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác." Vậy có thế dùng một tài sản để bảo đảm nhiều nghĩa vụ khác nhau nên ngân hàng bạn có thể cho khách hàng vay thêm Nghĩa Vụ khác cho Doanh nghiệp, được bảo đảm bằng tài sản thế chấp trước đó khách vay nghĩa vụ cá nhân.

- Hợp đồng thế chấp được Bộ luật dân năm 2005 sự quy định như sau:

"Điều 342. Thế chấp tài sản  

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 715 đến Điều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan."

Theo chúng tôi thì khách hàng đến để vay nghĩa vụ cho Doanh nghiệp có bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp tài sản. Tài sản thuộc sở hữu của khách hàng nhưng khách hàng lại dùng tài sản này để bảo đảm cho nghĩa vụ của doanh nghiệp, theo quy định của Điều luật trên thì khách hàng có thể dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc Doanh nghiệp đều được.

Bên cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm đã hiểu sai về bản chất của hợp đồng bảo đảm này là hợp đồng bảo lãnh, nhưng theo quy định của Bộ luật dân sự thì bảo lãnh là biện pháp bảm đảm dùng sự uy tín để bảo đảm sẽ thực hiện nghĩa vụ thay. Chúng tôi cho rằng đây là hợp đồng thế chấp, nên cơ quan đăng ký yêu cầu thể hiện số hợp đồng nghĩa vụ của cá nhân trên hợp đồng thế chấp của nghĩa vụ doanh nghiệp là không đúng. Khách hàng không phải thực hiện nghĩa vụ cho Doanh nghiệp, khách hàng chỉ phải thực hiện việc giao tài sản để xử lý khi Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ.

Vậy cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm không thể từ chối đăng ký thế chấp cho ngân hàng của bạn, ngân hàng không thể gửi công văn yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ cho Doanh nghiệp và thể hiện số hợp đồng cá nhân lên công văn.

Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ từ chối đăng ký giao dịch bảo đảm trong các trường hợp theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm:

"Điều 11. Từ chối đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm từ chối đăng ký khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Không thuộc thẩm quyền đăng ký;

b) Hồ sơ đăng ký không hợp lệ;

c) Người yêu cầu đăng ký không nộp lệ phí đăng ký hoặc không thanh toán lệ phí đúng thời hạn;

d) Yêu cầu đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, sửa chữa sai sót trong trường hợp đã xóa đăng ký giao dịch bảo đảm;

đ) Khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không phù hợp với thông tin được lưu trữ tại cơ quan đăng ký;

e) Khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không đúng sự thật hoặc có giấy tờ giả mạo.

2. Trong trường hợp từ chối đăng ký thì cơ quan đăng ký phải lập thành văn bản gửi cho người yêu cầu đăng ký, trong đó nêu rõ lý do từ chối và hướng dẫn người yêu cầu đăng ký thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

3. Quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều này không áp dụng đối với các trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm trực tuyến tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.