Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì:

"Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch

2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, để được thực hiện thủ tục thay đổi năm sinh của mình thì bạn phải có đủ căn cứ để xác định thông tin về năm sinh của bạn không đúng là do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người trước đây yêu cầu đăng ký hộ tịch.Trong trường hợp trên thực tế, cả hai chủ thể được đề cập ở điều luật trên không có lỗi trong việc đăng ký khai sinh về năm sinh cho bạn, thì bạn không được cải chính về thông tin năm sinh từ năm 1981 thành năm 1991 cho mình.

Ngoài ra, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định tại Điều 8 như sau:

"Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính."

Như vậy, pháp luật quy định, chỉ cần bạn đáp ứng đủ các quy định về điều kiện kết hôn như trên thì bạn hoàn toàn có thể kết hôn, mà pháp luật không tính đến trường hợp chênh lệnh về tuổi tác.

Nếu trong trường hợp của bạn là kết hôn với người nước ngoài, thì Trường hợp của bạn khi thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, Sở Tư pháp phải yêu cầu công dân Việt Nam đến Trung tâm Tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (của Hội Liên hiệp Phụ nữ) để được tư vấn trong 3 trường hợp: Giữa hai người có sự chênh lệch lớn về độ tuổi (nam hơn nữ từ 20 tuổi trở lên, nữ hơn nam từ 10 tuổi trở lên); việc kết hôn có tính chất phức tạp (hai người đều kết hôn lần thứ hai trở lên, người nước ngoài đã từng kết hôn và ly hôn với vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam…). Như vậy, nếu có sự chênh lệch độ tuổi quá lớn như trên, bạn chỉ cần đến Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình để được tư vấn về vấn đề chênh lệch độ tuổi khi kết hôn, mà không phải cấm kết hôn trong trường hợp này.

Tham khảo bài viết liên quan:

Thủ tục thay đổi năm sinh trong sổ hộ khẩu và giấy khai sinh ?

Luật không cấm vợ chồng chênh lệch tuổi quá lớn kết hôn ?

Kết hôn chênh lệch tuổi tác?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật