Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Thế chấp nhằm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162.

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005.

Nội dung tư vấn:

Đầu tiên, bạn cần hiểu rõ khái niệm thế chấp và khái niệm bảo lãnh là như thế nào, Bộ luật dân sự 2005 có nêu rõ:

"Điều 342. Thế chấp tài sản  

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp."

"Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

Giả sử trong một nghĩa vụ dân sự có bên có nghĩa vụ (bên A), bên có quyền đồng thời là bên nhận thế chấp (bên B) và bên thế chấp (bên C). Vậy có thể hiểu việc thế chấp nhằm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là việc bên C dùng tài sản của mình, thế chấp cho bên B để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thay cho bên A. Ví dụ, một tổ chức xã hội muốn dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ vay vốn ngân hàng của một người dân, thì khi đó người dân được vay vốn chính là bên A, ngân hàng là bên B và tổ chức xã hội đứng ra bảo đảm là bên C, đây chính là việc thế chấp nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Về bản chất, thế chấp là một biện pháp bảo đảm đối vật còn bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối nhân. Trong nghĩa vụ bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên B) rất dễ phải chịu thiệt thòi vì pháp luật quy định bên bảo lãnh (bên C) không dùng tài sản cụ thể thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà chỉ cần cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh (bên A) tại thời điểm các bên ký kết hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy nếu bên bảo lãnh không thể chứng minh được khả năng thanh toán của mình thay cho bên được bảo lãnh khi không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ đến mức độ nào, thì rất khó để bên nhận bảo lãnh đồng ý thực hiện giao dịch dân sự các bên cần có. Do đó việc thế chấp một tài sản cụ thể và đáp ứng đủ nhu cầu của bên nhận bảo lãnh là rất cần thiết để việc thực hiện giao dịch dân sự ở đây được dễ dàng và thuận lợi hơn.

Trong thực tiễn có rất nhiều trường hợp dùng việc thế chấp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tuy nhiên các bên thường ký kết hợp đồng dưới hình thức hợp đồng thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của người thứ ba, việc này là hoàn toàn nhầm lẫn và thậm chí đã bị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do hiểu sai bản chất hợp đồng. Hợp đồng trong trường hợp này phải được coi là hợp đồng bảo lãnh chứ không phải hợp đồng thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của người thứ ba.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.