1. Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả nợ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có vay ngân hàng 300 triệu đồng, đến nay bao gồm cả lãi là 390 triệu. Tôi có thế chấp sổ đỏ với ngân hàng. Nay đã quá hạn trả nhưng tôi không có khả năng trả được. Tôi muốn hỏi luật sư là nếu tôi không trả được số tiền đó thì liệu tôi có phải giao trả toàn bộ lô đất mà nhà tôi đang thế chấp cho ngân hàng không ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.P.Bình

Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả nợ ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm:

"Điều 56. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.

4. Các trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định."

Như vậy, khi bạn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của bạn cho ngân hàng thì tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bạn sẽ bị xử lý theo luật định.

"Điều 68. Xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý

1. Trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được bán đấu giá..."

Như vậy, nếu bạn và ngân hàng không có thỏa thuận về phương thức xử lí tài sản bảo đảm thì quyền sử dụng đất này của bạn sẽ được bán đấu giá.

Căn cứ vào khoản 3 điều 47 Luật thi hành án dân sự 2008 quy định:

" Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án".

Như vậy số tiền thu được từ việc bán đấu giá sau khi trừ đi các chi phí về thi hành án và trừ đi khoản nợ 390 triệu bạn nợ ngân hàng thì phần tiền còn lại từ việc bán đấu giá quyền sử dụng đất tòa án sẽ trả lại cho bạn. Do vậy câu trả lời cho câu hỏi của bạn là: nếu bạn không trả được số tiền đó thì bạn phải giao toàn bộ lô đất đó cho ngân hàng để ngân hàng phát mại tuy nhiên bạn sẽ nhận lại được phần giá trị còn lại của quyền sử dụng đất sau khi mà đã trừ đi khoản nợ.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

2. Thủ tục khởi kiện trả nợ khi không có thế chấp tài sản ?

Tôi có một thắc mắc: Mẹ tôi có cho 1 người vay tìên, giúp người đó theo đuổi 1 vụ kịên đất đai, 1 phần đã có gíây tờ, 1 phần thì không, người đó nói sẽ trả lại mẹ tôi nhưng 2 năm nay r vẫn không thấy trả, trong gíây tờ chỉ ghi là vay của mẹ tôi số tìên đó mà không có thế chấp gì. Vậy mẹ tôi có thể làm đơn kiện người đó không và nếu có thể kiện thì thủ tục sẽ là thế nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.P

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Khoản 1 Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004sửa đổi quy định:

"1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp."

Vậy cho nên, khi mẹ bạn có yêu cầu Tòa giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản thì mẹ bạn phải đưa ra được các chứng cứ để chứng minh có sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, ví dụ như vi phạm về thời hạn thanh toán khoản tiền đã vay. Các chứng cứ này thông thường có thể là giấy (hợp đồng) vay tài sản, băng ghi âm, ghi hình hoặc là người làm chứng...

Về thủ tục khởi kiện:

Tại điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS năm 2004 có quy định:

“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”.

Ngoài ra, tại Điều 427 BLDS năm 2005 có quy định:

“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”.

Do đó, trong khoảng thời gian 2 năm kể từ ngày mà quyền lợi của mẹ bạn bị xâm phạm thì mẹ bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình.

Hồ sơ khởi kiện tại tòa án bao gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng).

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (bạn phải ghi rõ số lượng bản chính, bản sao)- các tài liệu này bạn phải đảm bảo có tính căn cứ và hợp pháp.

Dựa trên quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì tranh chấp về hợp đồng dân sự trong trường hợp của mẹ bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện- theo đó, tòa án nhân dân cấp huyện nơi xảy ra việc thực hiện hợp đồng có quyền giải quyết tranh chấp của mẹ bạn . Theo quy định tại Điều 166 BLTTDS năm 2004, bạn có thể nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến tòa án qua bưu điện; ngày khởi kiện sẽ được tính từ ngày bạn nộp đơn tại Tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi. Trân trọng!

3. Có phải trả nợ đến hết khi thế chấp tài sản cho bạn vay tiền ngân hàng?

Kính gửi Luật Sư, tôi có vấn đề cần tư vấn như sau: Trước đây tôi có ký "hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ 3" để giúp bạn tôi vay 1 tỷ từ ngân hàng cho việc kinh doanh. Thời điểm đó ngân hàng định giá đất của tôi là 1 tỷ 5.

Sau này bạn tôi không trả nợ cho ngân hàng dù công ty làm ăn tốt. Ngân hàng liên tục liên hệ tôi đòi tiền, khi biết tôi không có khả năng thì yêu cầu tôi ủy quyền cho ngân hàng để thanh lý tài sản vì lý do đất của tôi "xấu" quá khó tìm người mua. Tôi rất sợ nợ phát sinh ngày một cao và tôi sẽ mất đất cho nên tôi cũng đồng ý ra công chứng ủy quyền cho ngân hàng xử lý để hy vọng vớt vát được phần nào. Sau thời gian vẫn không ai mua, ngân hàng khởi kiện công ty bạn tôi và tôi ra tòa. Lúc này vốn và lãi phát sinh đã lên đến gần 1 tỷ 7. Công ty bạn tôi làm ăn khá tốt nhưng làm lơ việc trả nợ. Trong khi tài sản của tôi định giá lại chỉ còn 1 tỷ 2.

Tôi xin hỏi luật sư liệu trong trường hợp của tôi, công ty bạn tôi có phải chịu trách nhiệm không? Nếu công ty làm lơ thì chỉ một mình tôi phải gánh nợ hay không? Và nếu như tài sản của tôi bị thanh lý không đủ tiền trả nợ thì tôi có phải gánh thêm số tiền cụ thể là 500 triệu? Và nếu tôi không có khả năng trả thì ngân hàng có xiết luôn tài sản khác của tôi, đó là ngôi nhà tôi đang ở hay không ?

Xin cám ơn luật sư.

Người gửi: L.K

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về thế chấp tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê, về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

Về vấn đề bạn của bạn có phải chịu trách nhiệm về khoản vay này hay không, Bộ luật dân sự nă 2005có quy định:

Điều 367. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh

Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác."

Theo đó, nếu bạn của bạn không chịu thanh toán khoản nợ cho ngân hàng thì bạn phải thực hiện nghĩa vụ này thay cho bạn của bạn, tuy nhiên sau đó bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bạn của bạn hoàn trả khoản tiền này lại cho mình theo yêu cầu của pháp luật. Nếu bên được bảo lãnh trong trường hợp này không phải là bạn của bạn mà là công ty bạn của bạn làm chủ thì bạn vẫn có quyền yêu cầu như trên.

Về vấn đề tài sản của bạn không đủ để trả nợ, bộ luật dân sự 2005 cũng quy định:

"Điều 369. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh."

Vì vậy, nếu mảnh đất bạn đem thế chấp cho ngân hàng không đủ giá trị để thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại thời điểm này, thì khoản tiền 500 triệu bị thiếu bạn vẫn phải trả đầy đủ, và ngân hàng có quyền yêu cầu bạn dùng các tài sản thuộc sở hữu cá nhân khác như căn nhà nêu trên để gán nợ, nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thay như trong hợp đồng đã ký kết.

Trân trọng./.

4. Chủ nợ có được quyền đem giấy tờ nhà của người vay đi thế chấp không ?

Thưa luật sư, Tôi có vay của bà chủ tôi 1 khoản tiền (có công chứng), và có ủy quyền cho chủ tôi về việc lãnh bảo hiểm xã hội 1 lần (sau 1 năm) để thanh toán số tiền trên.

Đồng thời tôi có viết tay giấy đồng ý để chủ tôi "giữ dùm" giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, sau 1 năm lấy tiền BHXH thanh toán sẽ trả lại giấy tờ( có ký nhận đồng ý của bác tôi - là 1 trong 2 người trong giấy quyền sử dụng nhà đất), ngôi nhà tôi đang ở gồm ba mẹ tôi, tôi, 2 em gái, và vợ chồng bác tôi. Cho tôi hỏi nếu chủ tôi muốn đem giấy tờ nhà của chúng tôi đi vay ở nơi khác mà không có sự đồng ý của chúng tôi thì có sao không, nếu chủ tôi đem đi thế chấp thì tôi có quyền kiện đòi lại mà không cần phải thanh toán số tiền chủ tôi đã vay (tôi vẫn trả hết số tiền mà tôi đã vay của chủ tôi).

Xin chân thành cảm ơn!

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

Trước hết việc bạn có viết tay giấy đồng ý để chủ của bạn " giữ dùm " giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất. trường hợp bạn thắc mắc là nếu chủ của bạn mang giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất của bạn đi vay ở nơi khác hoặc thế chấp thì có phạm pháp không.

- Theo điều 559 Bộ luật dân sự 2005 quy định hợp đồng gửi giữ tài sản:

Điều 559. Hợp đồng gửi giữ tài sản

Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công.

- Theo điều 561 bộ luật dân sự 2005 quy định quyền của bên gửi tài sản:

Điều 561. Quyền của bên gửi tài sản

Bên gửi tài sản có các quyền sau đây:

1. Yêu cầu lấy lại tài sản bất cứ lúc nào, nếu hợp đồng gửi giữ không xác định thời hạn, nhưng phải báo trước cho bên giữ một thời gian hợp lý;

2. Yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.

- Theo điều 163 bộ luật dân sự 2005 quy định tài sản:

Điều 163. Tài sản

Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

Theo quy định này thì ngoài “Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” ra, thì đều không phải là tài sản. “Giấy tờ có giá” quy định trong Điều 163 BLDS là giấy vay tiền, giấy nhận nợ, giấy công trái, giấy cổ phiếu…Nếu các giấy tờ này bị mất, thì chủ sở hữu các giấy tờ này cũng mất luôn căn cứ để đòi lại tiền.
Do đó sổ đỏ không phải là giấy tờ có giá trị như quy định trong Điều 163 BLDS nên sổ đỏ không phải là tài sản.

- Theo đó bạn đã gửi chủ của bạn giữ giúp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất. Nếu chủ bạn tự ý mang đi vay hoặc thế chấp thì có vi phạm pháp luật. Theo quy định chủ của bạn không phải chủ sở hữu giấy chứng nhận đó cũng như không được sự đồng ý của bạn nên không được phép mang giấy chứng nhân quyền sở hữu nhà đất để đi vay hoặc thế chấp. Do đó việc bà chủ bạn mang giấy tờ đó đi vay hay thế chấp thì giao dịch đó đương nhiên vô hiệu.

Theo khoản 1 điều 561 bộ luật dân sự 2005 thì nếu hợp đồng gửi giữ tài sản giữa bạn và bà chủ của bạn đối với giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất mà không xác định thời hạn thì bạn có thể lấy lại bất cứ lúc nào. Trường hợp bạn muốn lấy lại giấy chứng nhận quyền sở hữu đất thì phải thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết.

Theo điều 163 bộ luật dân sự 2005 thì bạn không thể khởi kiện vì sổ đỏ không phải là giấy tờ có giá nên việc đòi lại sổ đỏ cũng không phải là tranh chấp tài sản. Nếu đơn khởi kiện xác định sổ đỏ là tài sản và yêu cầu tòa án giải quyết thì việc tòa án trả lại đơn kiện cho người đã gửi đơn kiện là đúng với quy định tại điểm e khoản 1 điều 168 bộ luật tố tụng dân sự vì vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Theo đó nếu bà chủ của bạn mang giấy tờ đi vay hoặc thế chấp thì hành vi của chủ bạn đủ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 và bạn có quyền khởi kiện về hành vi này.

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

5. Thế chấp ngân hàng để vay tiền không trả được nợ có phạm tội lừa đảo không ?

Thưa Luật sư, cha tôi lúc còn sống có giao dịch vay mượn với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với số tiền là 300.000.000 đồng, tài sản thế chấp là giấy CNQSĐ do cha tôi đứng tên, mẹ tôi lúc đó cũng tham gia giao dịch với nghĩa vụ là người thừa kế, cứ thế vay đáo hạn ngân hàng nhiều lần.

Một thời gian sau, cha tôi bệnh nặng, cha tôi đã ủy quyền cho mẹ tôi đến ngân hàng trên để đáo hạn. Sau đó cha tôi mất, hạn ngân hàng lại đến, mẹ tôi và tôi tiếp tục đến ngân hàng trên đáo hạn ( Cha mẹ tôi có 2 người con, lúc giao dịch em tôi mới 15 tuổi, chưa đủ tuổi vị thành niên, nên không tham gia giao dịch) lúc này khi đi công chứng và văn phòng đăng ký QSDĐ, UBND xã nơi đất tọa lạc điều xác nhận có tài sản trên do cha tôi đứng tên và xác nhận để gia đình chúng tôi đáo hạn ngân hàng với số tiền là 300.000.000đồng. Sau này, do làm ăn thất bại, gia đình tôi không còn khả năng trả nợ, ngân hàng đòi kê biên phát mãi tài sản. Sau đó, phía ngân hàng đã đến văn phòng đăng ký QSDĐ huyện và UBND xã nơi tọa lạc xác minh thì các cơ quan trên điều trả lời rằng hiện tại phần đất do cha tôi đứng tên đã chuyển nhượng cho người khác đứng tên. Phía ngân hàng đã kiện gia đình chúng tôi ra tòa án, yêu cầu gia đình chúng tôi trả số tiền trên, nếu không thì yêu cầu tòa án khởi tố hình sự. Quan điểm của gia đình tôi đồng ý trả số tiền trên, nhưng do làm ăn thất bại, nên không có khả năng thanh toán một lần mà trả nhiều lần, nhưng phía ngân hàng không đồng ý.

Mà yêu cầu gia đình chúng tôi trả dứt điểm, nếu không thì yêu cầu khởi tố hình sự gia đình tôi ( cụ thể là mẹ tôi) về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xin quý công ty luật tư vấn giúp tôi. Trong trường hợp này, mẹ tôi có bị khởi tố về tội danh trên không? Và phía văn phòng Đăng ký QSDĐ, UBND xã là bên liên quan, nhưng lại trả lời không thống nhất. Vậy tôi phải làm sao?

Mong quý công ty luật hướng dẫn giúp đỡ. Trân trọng cảm ơn!!!

Thế chấp ngân hàng để vay tiền không trả được nợ có phạm tội lừa đảo không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.".

Trong đó:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: (1) Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn) … ; (2) Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp này, gia đình bạn không chiếm đoạt tài sản mà thực tế, số tài sản đó vẫn là tiền vay từ ngân hàng và gia đình bạn không hề trốn tránh trách nhiệm trả. Mẹ bạn không đủ điều kiện cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Hơn nữa, gia đình bạn cũng không có thủ đoạn gian dối gì vì việc chuyển nhượng và sang tên đất khi đất đã thế chấp là trái pháp luật. Vì vậy, việc nói rằng gia đình bạn đã chuyển nhượng cho người khác đứng tên đặt ra nhiều nghi vấn về tính chính xác. Bạn cần xác định lại tình trạng đất nhà mình tại cơ quan có thẩm quyền.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Cách xử lý tài sản sản thế chấp vay nợ ?

Xin chào Luật sư, đầu tiên xin chúc Luật sư nhiều sức khỏe và thật nhiều niềm vui. Sau đó, xin Luật sư tư vấn dùm em một vấn đề ạ. Trước kia bố vợ em có cầm sổ vay ở ngoài số tiền là 700 triệu đồng, nhưng bên cầm sổ kêu bố vợ em ký giấy bán nhà chứ không phải giấy vay tiền.

Nội dung là đặt cọc 1 tỷ đồng, sau 3 tháng không giao nhà thì phải bồi thường hợp đồng mua bán là đền gấp đôi. Sau 3 tháng, bố vợ em không giao nhà nên bên đó đưa đơn kiện ra tòa. Thời điểm bên đó cho bố em vay thì bên đó không biết bố em còn người chị. Giờ chị của bố em cũng đưa đơn kiện bố em, là nếu bán nhà trả nợ cho bên kia thì phải chia cho chị của bố em 1/2 căn nhà. Thực sự là chị bố em có nhà riêng, cô ấy làm vậy để lấy lại tiền cho bố em thôi. Sau thời gian xảy ra chuyện đó thì em mới nhập hộ khẩu, bây giờ những người trong hộ khẩu đều ký giấy bán nhà mà bên cho vay bắt ký, chỉ có mình em nhập hộ khẩu sau là không có ký.

Xin cho em hỏi là nếu tòa xử bán nhà trả nợ thì có chia đôi tài sản cho cô em không và còn 1/2 còn lại có chia đều thành 6 phần không, vì nhà có 6 người trong đó có em. Giá trị căn nhà là 2 tỷ 300 triệu và bà nội em mất mà không để lại di chúc ạ. Hay là có thể tòa xử theo cách nào ạ ?

Xin Luật sư tư vấn dùm em. Chân thành cảm ơn Luật sư!

Cách xử lý tài sản sản thế chấp vay nợ ?

Luật sư tư vấn xử lý tài sản thế chấp, gọi: 1900.6162

Trả lời

Như thông tin bạn cung cấp, ngôi nhà là tài sản chung vậy theo Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

Điều 214. Sở hữu chung

Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.

Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.

Khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Việc bố bạn sử dụng tài sản sở hữu chung đi thế chấp mà chưa có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác là trái với quy định của pháp luật. Như vậy, hợp đồng giữa bố bạn và bên cho vay tiền sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều cầm của pháp luật.

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, giao dịch giữa bố bạn và bên cho vay tiền thuộc trường hợp bị vô hiệu. Nếu trong trường hợp bán nhà. Nếu nhà là của bà bạn thì số tiền sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, theo quy định Bộ luật dân sự 2005:

Ðiều 676. Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Nếu nhà là tài sản chung của gia đình thì sẽ chia theo phần. Trường hợp bạn nhập hộ khẩu, việc đăng ký tên trong sổ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý về mặt hành chính, chứ việc này không có ý nghĩa gì trong việc để lại thừa kế hay sở hữa tài sản, do đó, nếu như không được sự đồng ý của các chủ sở hữu thì bạn cũng không có quyền được hưởng tài sản.

Trên đây là ý kiến để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê