Tháng 11/2014 vì cần tiền tôi đã gửi email yêu cầu bạn thanh toán tiền cho tôi, sau đó tôi có nhận được email trả lời của bạn sẽ trả tiền là 100 triệu trong tháng 11+12/2014, nhưng cho đến nay tôi mới nhận được tổng 60 triệu bạn trả. Xét thấy khả năng bạn trả nợ cho tôi là khó (hình như không muốn trả). Tôi cảm thấy rất lo lắng vì số tiền hiện tại bạn còn nợ lại là nhiều (355 triệu). Vì tôi không có một giấy tờ nào chứng minh bạn vay tiền của mình chỉ duy nhất là có email của bạn gửi cho tôi. Vậy tôi phải làm như thế nào để chứng minh trước pháp luật là bạn tôi đã vay của tôi số tiền như trên không? Kính mong các Luật sư giúp đỡ. 

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: Hoang

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

cho vay tiền

Luật sư tư vấn luật dân sự qua tổng đài gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bộ luật Dân sự năm 2005

Nội dung phân tích:

Điều 471 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì không yêu cầu cụ thể về hình thức của hợp đồng vay tài sản, do đó giao dịch vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong trường hợp này, bạn có thể thông báo với người kia thời gian trả tiền cho mình nếu người đó không trả lại tiền cho bạn, bạn có thể kiện người đó về tội "tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", điều 140 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này"

Để Tòa án có thể thụ lý vụ án của án của bạn, bạn cần phải có bằng chứng về việc giữa bạn và người đó có giao dịch về tài sản như: tin nhắn, gọi điện, ghi âm hoặc biên bản thừa nhận khoản nợ này của người vay.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự