Em đòi bạn ấy nhưng bạn ấy không trả. Em định làm đơn kiện bạn ấy nhưng không biết có vi phạm pháp luật không ?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Hao

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Tu-van-xu-ly-hanh-vi-cho-vay-nang-lai

Thế nào là cho vay nặng lãi  

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý: Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011, Bộ luật hình sự năm 1999

 Bạn của bạn đã nhờ bạn vay tiền. Pháp luật không quy định Hợp đồng vay tài sản bắt buộc phải tuân theo bất kỳ hình thức nào nên hai bên có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể  quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự. Vậy nên giấy viết tay này có giá trị như hợp đồng vay tài sản. Do đó, người bạn này - bên vay có nghĩa vụ như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Tuy nhiên, trong giao dịch này, số tiền vay là 17 triệu, mức lãi suất là 5000/1 triệu/ngày nghĩa là 2,55 triệu/ tháng tương đương 15%/ tháng. Mức lãi suất này có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 1999:

Điều 163. Tội vay nặng lãi

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ  mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội  thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng  đến ba năm.

3. Người phạm tội  còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về mức lãi suất cao nhất :

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố hiện nay là 9%/năm, tương ứng 0,75%/tháng. Vậy mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận không được vượt quá 1,125%/tháng. Mức lãi suất cấu thành tội cho vay nặng lãi là 11,25% trở lên.

Vấn đề ở đây là trong hợp đồng vay tài sản, người cho vay  là bạn hay người khác. Nếu người cho vay là bạn, khi bạn khởi kiện rất có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay nặng lãi. Nếu bạn không phải người cho vay thì bạn không có quyền khởi kiện họ đối với giao dịch này nhưng bạn có thể khởi kiện yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi dùng danh nghĩa của bạn để thực hiện giao dịch.

Trân trọng ./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ