Và phía ngân hàng đã khởi kiện ra tòa án thì bị trả hồ sơ, do khách hàng A đã trốn khỏi địa phương nên ngân hàng không cung cấp được địa chỉ khách hàng A và khách hàng A này hiện đang có lệnh truy nã của công an với vụ án tổ chức đánh bạc. Như vậy từ 09/2011 đến nay các cơ quan chức năng không có thông tin gì của khách hàng A. Vậy về phía ngân hàng cần làm những thủ tục gì? được nộp đơn ra tòa án không? (theo bộ luật nào).

Nhờ luật sư tư vấn giúp ! trân trọng cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự  của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ tư vấn của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.

- Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

2. Nội dung tư vấn:

Theo thông tin bạn đã trình bày, khách hàng A vay vốn tại một ngân hàng khi đến hạn A không thanh toán dẫn đến việc nợ quá hạn. Và phía ngân hàng đã khởi kiện A ra Tòa án. Tuy nhiên A hiện đã trốn khỏi địa phương khiến cho ngân hàng không biết A đang ở đâu, không cung cấp được địa chỉ cụ thể của A trong đơn khởi kiện (với tư cách A là bị đơn). Cũng vì chính lí do này mà Tòa án đã trả lại hồ sơ khởi kiện của ngân hàng. 

Khoản 6 Điều 9 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định:

Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS, hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết này và Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết này nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Theo đó, việc Tòa án trả lại hồ sơ trong trường hợp này là không có căn cứ. Khách hàng A cố tình lẩn trốn, nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng cho nên Tòa án vẫn phải tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Nếu Tòa án trả lại hồ sơ chỉ vì lí do ngân hàng không cung cấp được địa chỉ của người bị khởi kiện thì sẽ bị "tước quyền" khởi kiện.

Trong trường hợp này, địa chỉ khách hàng ghi trên đơn khởi kiện cũng là địa chỉ trên các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo đảm là địa chỉ được lấy từ sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân và theo cung cấp của khách hàng. Đây là cơ sở phản ánh chính xác nhất thông tin về khách hàng. Ngân hàng cũng chỉ có thể cung cấp thông tin về địa chỉ của khách hàng cho Tòa án theo nguồn này.

Hơn nữa, theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo đảm được ký giữa ngân hàng với khách hàng thì khách hàng cam kết địa chỉ ghi trong các hợp đồng này là địa chỉ hợp pháp hiện nay của khách hàng. Ngân hàng sẽ tiến hành gửi văn bản, thông báo để yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ dựa trên địa chỉ này. Việc khách hàng cố tình thay đổi địa chỉ mới nhưng không thông báo cho ngân hàng dẫn đến ngân hàng không thể yêu cầu khách hàng thực hiện được nghĩa vụ hoàn toàn có thể được xem là hành vi cố tình giấu địa chỉ nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng.

Như vậy, khi khách hàng cố tình thay đổi, giấu địa chỉ mới nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, Tòa án phải thụ lý vụ án theo thủ tục chung. Khi đó, địa chỉ trên các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng bảo đảm được ký giữa ngân hàng với khách hàng phải được xem là địa chỉ hiện tại của khách hàng. Việc ngân hàng sử dụng địa chỉ này trên đơn khởi kiện là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng điều kiện khởi kiện quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì vậy, ngân hàng có thể tiếp tục nộp đơn khởi kiện ra tòa theo mẫu sau đây:

Mẫu đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tóa án sơ thẩm

Mẫu số 01 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

___________________

                                                  ……(1), ngày….. tháng …… năm…….

 

ĐƠN KHỞI KIỆN

                        Kính gửi: Toà án nhân dân (2)……………………………………… 

Họ và tên người khởi kiện: (3)………………………………………………………… 
Địa chỉ: (4) ………………………………………………………………………….…….
Họ và tên người có quyền và lợi ích được bảo vệ (nếu có) (5) …………………… 
Địa chỉ: (6) ………………………………………………………………………………..
Họ và tên người bị kiện: (7) ……..………………………………………………….…… 
Địa chỉ: (8)  …………………………………………………………………...…….…….
Họ và tên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) (9)…….. …….……… 
Địa chỉ: (10) ……………………………………………………………………………….
Yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (11)………………………………………………………….…………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Họ và tên người làm chứng (nếu có) (12)……..……...……………………………… 
Địa chỉ: (13) ………………………………………….………………………….………. 
Những tài liệu, chứng kèm theo đơn khởi kiện gồm có: (14)
1………………………………………………………………………………………….
2…………………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………
(Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án) (15)
…………………………………………………………………… ……
……………….
………………………………………………………………………………….……….              

                          
Người khởi kiện (16)


Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01
  (1) Ghi địa điểm làm đơn khởi kiện (ví dụ: Hà Nội, ngày…..tháng…..năm……).
  (2) Ghi tên Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án; nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân huyện gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện A thuộc tỉnh B), nếu là Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên) và địa chỉ của Toà án đó.
  (3) Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì ghi họ và tên; nếu người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, thì ghi tên cơ quan, tổ chức và ghi họ, tên của người đại điện hợp pháp của cơ quan, tổ chức khởi kiện đó.
  (4) Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì ghi đầy đủ địa chỉ nơi cư trú (ví dụ: Nguyễn Văn A, trú tại thôn B, xã C, huyện M, tỉnh H); nếu người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, thì ghi địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Công ty TNHH Hin Sen có trụ sở: Số 20 phố LTK, quận HK, thành phố H).
  (5), (7) và (9) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (3).
  (6), (8) và (10) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (4).
  (11) Nêu cụ thể từng vấn đề yêu cầu Toà án giải quyết.
  (12) và (13) Ghi họ và tên, địa chỉ nơi người làm chứng cư trú (thôn, xã, huyện, tỉnh), nếu là nơi làm việc, thì ghi địa chỉ nơi người đó làm việc (ví dụ: Nguyễn Văn A, công tác tại Công ty B, trụ sở làm việc tại số …phố…quận…TP Hà Nội).
  (14) Ghi rõ tên các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện gồm có những tài liệu gì và phải đánh số thứ tự (ví dụ: các tài liệu kèm theo đơn gồm có: bản sao hợp đồng mua bán nhà, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, …)
  (15) Ghi những thông tin mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án (ví dụ: Người khởi kiện thông báo cho Toà án biết khi xảy ra tranh chấp một trong các đương sự đã đi nước ngoài chữa bệnh…).
  (16) Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khởi kiện đó; nếu là cơ quan tổ chức khởi kiện, thì người đại điện hợp pháp của cơ quan, tổ chức khởi kiện ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
Đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện, ngân hàng cũng có nghĩa vụ tìm địa chỉ của A. Căn cứ theo khoản 7 Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP:

Nếu người khởi kiện không biết hoặc ghi không đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để ghi trong đơn khởi kiện, thì họ phải thực hiện việc tìm địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê