Nhưng khi chúng tôi nói đã vậy thì ông ta phải có trách nhiệm một phần để nuôi đứa trẻ thì ông ta lại chối và tôi đã làm đơn khởi kiện truy nhận cha cho con gửi tòa án tại tòa thì ông ta cũng nhận hết và hứa để ông ta thực hiện. Hết thời hạn tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án của tôi. Tôi làm đơn kháng cáo thì thẩm phán và chánh án khuyên tôi rút đơn kháng cáo để một thời gian cho anh ta cơ hội thực hiện lời hứa nếu anh ta không thực hiện được thì tôi nộp hồ sơ tòa vẫn giải quyết. Tôi đồng ý rút đơn. Một tháng sau tôi không thấy gì tiếp tục nộp đơn khởi kiện thì tòa án không thụ lý hồ sơ của tôi với lý do tôi không xuất trình được chứng cứ là bản giám định ADN, và tôi xem trong hồ sơ lần trước thì cũng không thấy ghi những lời nhận tội của bên bị đơn vào. Tòa án làm như vậy có đúng với bộ luật tố tụng dân sự không? và nếu bây giờ tôi làm đơn kháng nghị thì có được không thưa luật sư? Rất mong luật sư bớt chút thời gian tư vấn giúp tôi.

Tôi xin cảm ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tòa án làm như vậy có đúng với bộ luật tố tụng dân sự không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

(Câu trả lời đang chờ cập nhật)

Nội dung trả lời

Chào bạn, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

I - Cơ sở pháp lý.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.

II - Trả lời.

Thứ nhất, về việc Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án của bạn. Bạn không nói rõ là hết thời hạn gì mà Tòa án lại ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với vụ án của bạn. Về quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, theo quy định tại Điều 192 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về các trường hợp Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án gồm có:

1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

d) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án;

đ) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án;

e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng;

g) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

h) Thời hiệu khởi kiện đã hết;

i) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

k) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu”

Khoản 1 Điều 168 BLTTDS theo điểm  i nêu trên có nội dung:

1. Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;

c) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng;

d) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 nêu trên thì Tòa án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 

Bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên chúng tôi không biết bạn đang nói đến thời hạn nào hết. Nếu bạn đang nói đến "thời hiệu khởi kiện" thì trường hợp khởi kiện về quyền nhân thân - xác định cha, con không có thời hiệu khởi kiện. 

Thứ hai, về việc Tòa án không thụ lý đơn khởi kiện của bạn lần thứ 2 với lý do bạn không xuất trình được bản giám định ADN là hoàn toàn có căn cứ. Bởi Điều 165 BLTTDS quy định "Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp".

Mặt khác, Điều 79 BLTTDS quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự như sau:

"1.Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh".

Chứng minh là quyền và cũng là nghĩa vụ của bạn. Bạn khởi kiện việc xác định cha cho con thì bạn phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh người kia đúng là cha ruột của con của bạn, thể hiện rõ nét nhất là qua bản giám định gen ADN. Do đó, khi gửi đơn khởi kiện mà bạn không gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp thì Tòa án hoàn toàn có căn cứ không thụ lý đơn khởi kiện của bạn.

Do bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên chúng tôi không biết Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của bạn vì lý do gì nên khá khó khăn khi tư vấn cho bạn về khía cạnh đình chỉ giải quyết vụ án và khi không còn lý do đình chỉ giải quyết vụ án thì phải tiếp tục xét xử vụ án.

Câu hỏi của bạn về việc bạn có thể kháng nghị không, thì câu trả lời là không thể. Bởi kháng nghị là quyền của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị, còn các đương sự chỉ có quyền kháng cáo. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể làm đơn đề nghị kháng nghị quyết định/bản án của Tòa án gửi đến những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi xác định được có căn cứ kháng nghị.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.