Sau thời gian này bác của tôi có về thăm nhà, nhưng do nhà đã quá cũ và dột nát nên bác tôi gọi tôi vào để ở và thờ phụng ông bà vì đây là nhà thờ, thời gian ở đó vợ chồng tôi đã đập rất nhiều chỗ hư nát, tu sửa lại rất nhiều lần cho đến bây giờ. Vào năm 1996 bác tôi đã viết giấy chuyển nhượng thừa kế ngôi nhà lại cho tôi có ủy ban phường xác nhận, trong thời điểm này ngôi nhà này đứng tên là nhà thờ, nên tôi đã xin kê khai đăng ký sang tên mình và đã được cấp sổ đỏ do vợ chồng tôi đứng tên vào năm 2006. Đến năm 2013 có 1 nhà giàu nói đổi ngôi nhà của tôi cho họ để lấy ngôi nhà 1 tấm của họ và được thêm 400 triệu đồng. Vì nghèo khó, nhà nhỏ chật không có chỗ thờ cúng ông bà nay đổi sang chỗ mới có chỗ cúng lạy ông bà nên vợ chồng tôi hỏi ý kiến của những người trong tộc, và chúng tôi đã đồng ý, Vài ngày sau người con trai của bà vợ đầu biết được nên ông đã ngăn cản tôi và nói phải đưa ông 200 triệu để cho mẹ ông vì đây là nhà của cha mẹ ông, tôi suy nghĩ dù gì đây cũng là anh mình, vợ bác mình nên tôi đã đồng ý đưa ông 200 triệu tại phiên hòa giải ở Ủy ban phường. Nhưng sau đó ông này đã đổi ý muốn lấy cả ngôi nhà của tôi nên sau đó có đơn khởi kiện mang tên của mẹ ông̣ đòi lại ngôi nhà. Trong đơn ghi là : "đòi lại nhà và đất cho ở nhờ" Nhưng trong buổi hòa giải ông có nói là mẹ ông bị tai biến nằm 1 chỗ. Và bà đã chết sau đó ít tháng trong năm (2014).  Năm 2015 đơn khởi kiện được tòa án nhân dân thành phố Hội An chấp nhận, tòa án ghi là gia đình tôi vào ở năm 1990 chứ không phải là năm 1978 như phường và dân địa phương đã xác nhận. Tòa án xử tôi phải giao lại ngôi nhà cho mẹ con ông và mẹ con ông phải trả cho tôi số tiền là 700 triệu đồng về việc tu sửa và gìn giữ trong thời gian ở trên, nhưng do gia đình tôi không có nhà để ở nên chúng tôi được ở lại ngôi nhà và phải trả lại cho mẹ con ông số tiền là 732triệu (vì định giá ngôi nhà là 1tỷ432triệu) chúng tôi không đồng ý nên đã kháng cáo lại bản án, và ông cũng kháng cáo lại bản án. 2 tháng sau tòa án phúc thẩm xử lại và còn thậm tệ hơn cho gia đình chúng tôi. Toà xử chúng tôi phải trả nhà cho ông ta và chỉ được nhận 400triệu đồng. Gia đình tôi cũng như những người trong gia đình và địa phương rất bức xúc vì tòa đã xử như vậy là không đúng pháp luật. Xin hỏi quý anh chi tòa xử như vậy có đúng pháp luật không, nhờ quý cấp thương tình giúp đỡ xem xét chỉ cho gia đình chúng tôi phải làm như thế nào để khỏi mất ngôi nhà, thật là bất công cho chúng tôi quá. Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

 

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sư, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004  (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì Tòa án xử như vậy là chưa đúng quy định của pháp luật. Vì những lý do sau:

Một là Việc xác định quan hệ dân sự trong vụ tranh chấp không phải là "đòi nhà cho ở nhờ", vì theo như tình tiết bạn cung cấp thì: Vào năm 1996 bác tôi đã viết giấy chuyển nhượng thừa kế ngôi nhà lại cho tôi có ủy ban phường xác nhận, trong thời điểm này ngôi nhà này đứng tên là nhà thờ, nên tôi đã xin kê khai đăng ký sang tên mình và đã được cấp sổ đỏ do vợ chồng tôi đứng tên vào năm 2006.

Như vậy, bạn đã được bác bạn chuyển nhượng sang tên ngôi nhà, đây có thể coi là một hợp đồng tặng cho tài sản,hơn nữa việc tặng cho này đã được ủy ban phương xác nhận, và bạn đã được cấp sổ đỏ vào năm 2006.

Hai là người vợ của bác bạn có quyền gì trong ngôi nhà đó hay không, phải chia thành hai trường hợp, Trường hợp thứ nhất, ngôi nhà trên là nhà thờ, là di sản thờ cúng thì theo quy định tại Điều 670 Bộ luật dân sự năm 2005 bạn đã được bác bạn chỉ định quản lý phần di sản này, do đó người vợ không có quyền gì đối với khối di sản này.

Điều 670. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp thứ hai, ngôi nhà và mảnh đất không phải là di sản thờ cũng thì theo quy định của Điêu 669 Bộ luật dân sự năm 2005 thì bà vợ chỉ được hưởng 2 phần 3 suất của một người thừa kế theo pháp luật:

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động

Thứ hai, để có thể đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể viết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục Giám đốc thẩm và gửi đơn tới Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định tại Điều 284 và Điều 284a Bộ luật tô tụng dân sự năm 2011:

Điều 284. phát hiện bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật cấn xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để Xem Xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.

Điều 284a, Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Đơn đề nghị phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;

b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;

c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đề nghị Xem Xét theo thủ tục giám đốc thẩm;

d) Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;

đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

2. Người đề nghị phải gửi kèm theo đơn bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ.

3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.