Thời gian vừa rồi tôi khó khăn nên chưa trả lãi đúng kỳ hạn cho bên công ty tài chính PPF Việt Nam được nên bên PPF đã thanh lý hợp đồng và bắt tôi phải bồi thường hợp đồng số tiền là 40256000 đ. Vậy cho tôi hỏi bên công ty tài chinh PPF cho tôi vay như thư thế có bị coi la vay nặng lãi không. và việc yên cầu tôi thanh lý hợp đồng vậy có đúng ko. Tôi chấp nhận trả với số tiền bắn số tiền tôi vay la 25000000 đ trừ đi số tiền tôi đã trả la 7568000đ là đúng hay sai? tôi xin cảm ơn.

Người gửi: P.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162            

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Liên quan đến vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2005;

- Bộ luật hình sự năm 1999.

Điều 476 BLDS 2005 quy định:

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Như vây, pháp luật cho phép các bên trong hợp đồng vay tiền có thể thỏa thuận về mức lãi suất vay cụ thể, tuy nhiên giới hạn mức lãi suất không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2.  Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3.  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất, lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Thứ hai, có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Trong trường hợp hành vi của công ty tài chính có yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi thì bạn có thể trình báo cơ quan công an để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này.

- Trong trường hợp này công ty tài chính thanh lý và bắt bạn phải bồi thường như vậy là không đúng pháp luật, việc công ty tài chính có cho vay nặng lãi hay không thì theo quy định trên bạn có thể so sánh lãi suất vay của bạn với lãi suấtt cơ bản của ngân hàng nhà nước tại thời điểm bạn vay để xem xét hành vi của công ty tài chính đó có vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước hay không

- Việc bạn chấp nhận trả số tiền vay là 25 triệu đồng trừ đi số tiền bạn đã nộp như vây là sai . Bạn phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước công bố trong thời điểm trả nợ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ.