Chiều ngày 7 bạn của em cùng 2 người bạn nữa đã trộm 1 con trâu trận của người dân buộc ở ngoài đồng cỏ đem đi bán nhưng không bán được vì lò tiêu thụ bảo con trâu đã báo chính quyền can thiệp .nên bạn em cùng 2 người bạn đã để trâu lại và bỏ chạy. Con trâu trị giá 150triệu đồng. Hiện giờ trâu đã được trả về chính chủ.gia đình bạn em đã thỏa thuận với chủ trâu là đền bù số tiền trên và đã được sự nhất trí của 2 bên (bên trộm và bên bị trộn )và không đưa đơn khởi tố.nhưng bấy giờ đang bị công an huyện tạm giam để điều tra. Phạm tội như vậy có bị tù không ạ?

Xin nhờ luật sư giải đáp giúp em? Em xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp luật

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003

- Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009

2. Nội dung phân tích:

"Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng."

Đối với tội trộm cắp tài sản thì hành vi chiếm đoạt đã thể hiện mục đích chiếm đoạt của người phạm tội và dấu hiệu chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản là chiếm đoạt được. Chính vì vậy, tội trộm cắp tài sản hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Việc đánh giá người phạm tội đã chiếm đoạt được hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt. Nếu tài sản chiếm đoạt gọn nhỏ thì coi là đã chiếm đoạt được khi người phạm tội đã dấu được tài sản trong người; nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi chiếm đoạt được khi đã mang được tài sản ra khỏi khu vực bảo quản; nếu vật chiếm đoạt là tài sản để ở những nơi không hoàn thành khu vực bảo quản riêng thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu.

Như vậy bạn của bạn được xác định là cấu thành tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã có sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại với người bị mất trộm tuy nhiên tội trộm cắp tài sản lại không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

"Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ."

Do đó bạn của bạn vẫn bị truy tố về tội trộm cắp tài sản. Gía trị tài sản bị chiếm đoạt là 150 triệu đồng. Bạn của bạn bị truy tố tại điểm e khoản 2 điều 138 với mức phạt tù là 2 năm đền 7 năm. Tuy nhiên đã có sự thỏa thuận bồi thường và khắc phục thiệt hại, bạn của bạn có thể được áp dụng tình tiết giảm nhẹ mức hình phạt.

Bộ luật hình sự có quy định:

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

Hơn nữa:

"Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án"

Hiện giờ trâu đã được trả về chính chủ, gia đình đã thỏa thuận với chủ trâu là đền bù số tiền trên và đã được sự nhất trí của 2 bên, không đưa đơn khởi tố thì đây chỉ có thể được xác định là tình tiết giảm nhẹ, bạn của bạn vẫn bị khởi tố trách nhiệm hình sự vì hành vi vi phạm của mình.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê