( khi đó chúng tôi chưa tiến hành đo đạc cụ thể nên chỉ có thể tính diện tích một cách ước chừng). Khi đó bà A có nói gia đình bà chưa cần đất ngay, nên gia đình tôi chưa cần phá dỡ căn nhà để trả mặt bằng cho bà A. Vì cả hai gia đình ( nhà tôi và và A) đều có ý định sẽ xây dựng nhà mới ( trên mảnh đất đó) vào đầu năm 2016 và đã thỏa thuận (miệng) là sẽ tháo dỡ và trả mặt bằng cho bên mua vào thời điểm gia đình tôi khởi công xây nhà mới. Hai bên cũng thảo thuận là toàn bộ chi phí sang tên tách sổ đỏ sẽ do bên mua chịu ( có ghi trong Biên bản nhận cọc) Bên mua ( bà A) vì cũng chưa có tiền trả ngay cho gia đình tôi, nên trong biên bản nhận đặt cọc có ghi “ bên mua sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại cho bên bán trược ngày 1/1/2016, nếu bên mua không thanh toán cho bên bán số tiền còn thiếu ( ước tính khoảng 2 tỷ đồng) trước ngày 1/6/2016 thì sẽ bị mất 100 triệu tiền cọc, ngược lại, nếu bên bán không bán cho bên mua miếng đất ước tính 41m2 nói trên thì bên bán sẽ đền cho bên mua 100 triệu). Sau đó ít lâu, bên mua bắt đầu gây ra rất nhiều chuyện khó chịu cho gia đình tôi, tôi xin được liệt kê ra sau đây: 1. Bên mua yêu cầu được nợ lại 100 triệu tiền mua đất cho đến khi gia đình họ xây xong phần thô trên mảnh đất mới mua ( chúng tôi đồng ý) 2. Sát ngày 1/1/2016 ( hạn trả tiền) bên mua yêu cầu bên bán sang tên sổ đỏ cho bên mua trước khi bên mua thanh toàn tiền ( chúng tôi không đồng ý) 3. Sau đó, bên mua yêu cầu thanh toán 50% tiền đất, số tiền 50% còn lại sẽ thanh toán sau khi tách xong sổ đỏ ( chúng tôi không đồng ý). Bên mua nâng số tiền trả trước lên 70%, rồi 80%.... cuối cùng, gia đình tôi có nói “ chúng tôi chỉ đồng ý cho bên mua nợ lại 50 triệu đồng”. 4. Tiếp theo đó, bên mua yêu gia đình tôi phá dỡ căn nhà cấp 4 đang ở để trả mặt bằng cho họ trước khi tách sổ, chúng tôi đồng ý. Khi chúng tôi thông báo với bên mua rằng chúng tôi sẽ tiến hành tháo dỡ vào ngày 18/1/2016 thì bên mua nói rằng do chúng tôi tháo dỡ nhà quá lâu nên họ không mua nữa. Hiện tại, hai bên đang tranh chấp với nhau về khoản tiền đặt cọc 100 triệu. Họ đã nhiều lần vào nhà tôi để chửi bới thóa mạ và đe dọa (tôi có băng ghi âm). Kính mong luật sư tham vấn cho tôi và gia đình được biết: 1. với trường hợp nói trên thì quyền được phạt cọc thuộc về bên nào ( bên mua hay bên bán). 2. Trong trường hợp bên mua tiếp tục quấy rối cho tôi, thì tôi có quyền kiện họ về tội xúc phạm danh dự nhân phẩm cá nhân hay không và họ sẽ bị xử lý như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. 

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

2. Nội dung tư vấn: 

Thứ nhất, về việc tranh chấp khoản tiền đặt cọc

Điều 358, bộ luật dân sự 2005 quy định: 

"1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác"

Căn cứ vào quy định trên thì nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng thì tài sản thuộc về bên nhận đặt cọc, hơn thế nữa, hai bên đã thỏa thuận rõ trong  biên bản nhận đặt cọc  “ bên mua sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại cho bên bán trược ngày 1/1/2016, nếu bên mua không thanh toán cho bên bán số tiền còn thiếu ( ước tính khoảng 2 tỷ đồng) trước ngày 1/6/2016 thì sẽ bị mất 100 triệu tiền cọc, ngược lại, nếu bên bán không bán cho bên mua miếng đất ước tính 41m2 nói trên thì bên bán sẽ đền cho bên mua 100 triệu. Do đó, số tiền 100 triệu tiền cọc trong trường hợp này sẽ thuộc về gia đình bạn. 

Thứ hai, về việc xử lý hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm

Theo như bạn đã trình bày, bên mua đất đã nhiều lần đến nhà bạn chửi bới thóa mạ và đe dọa bạn. Tuy nhiên, để kết luận người đó có phạm tội làm nhục người khác theo quy định tại bộ luật hình sự hay hay không thì còn phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi mà người đó đã thực hiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người mua đất đối với bạn, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý dưới các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

-Xử phạt vi phạm hành chính: 

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

....

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

-Yêu cầu bồi thường thiệt hại: 

Ðiều 604 Bộ luật Dân sự quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  được xác định theo Ðiều 611 Bộ luật Dân sự: Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

-Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại điều 121, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009. Theo đó: 

"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm" 

Như vậy tội làm nhục người khác có thể được hiểu là Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông… Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Do đó khi hành vi trên của người mua ở mức độ xức phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của bạn thì bạn có thể làm đơn tố giác tới cơ quan điều tra về hành vi trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận  Tư vấn pháp luật dân sự.