Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho chúng tôi, chúc bạn sức khỏe. Vấn đề của bạn xin được tư vấn cho bạn như sau:

Cở sở pháp luật:

Luật dân sự 2005

Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung phân tích:

+ Về hợp đồng cho vay tài sản, trong bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

+ Về hình thức hợp đồng vay:

"Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

->Như vậy hợp đồng vay bằng miệng về mặt hình thức là đã đảm bảo quy định tuy nhiên trên thực tế rất khó để chứng minh theo quy định của pháp luật

+Nếu vụ việc có tính chất dân sự:

Bạn có thể yêu cầu tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối  "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó." . Khi đó hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu là hai bên trả cho nhau những gì đã nhân, theo đó bạn có thể nhận lại số tiền của mình và bạn cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

+Nếu đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự:

Bạn có thể nộp đơn tố giác nếu xét thấy hành vi đó đủ điều kiện luật định về tội phạm

"Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhưng được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Như vậy ở đây phía bên kia nói dối muốn kết hôn với bạn, lợi dụng tình cảm thân thiết bằng hình thức hợp đồng miệng để vay, mượn tiền bạn nếu phát sinh thêm mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản đó hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó thì đủ căn cứ để cấu thành tội phạm. Hiện tại bạn cần thu thập thêm chứng cứ cho vụ việc vay này bằng những tin nhắn, cuộc gọi, ghi âm, hay xác nhận vay...để đảm bảo cho việc khởi kiện.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.