Vậy em nhờ anh chị tư vấn xem trường hợp của em thuộc về bên dân sự hay hình sự và tư vấn cho em cách giải quyết với ạ ? Tôi xin chân thành cảm ơn! Người gửi: B.T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn xử lý trường hợp vay tiền không trả, gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! vấn đề của bạn Luật Minh khuê xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật dân sự mới nhất năm 2015 

Bộ luật hình sự 2009 

Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015 

2. Nội dung tư vấn:

Hiện nay theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự qui định về hình thức của hợp đồng dân sự như sau:

“1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không qui định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có qui định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các qui định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác”.

mà ở đây bạn cho  vay số tiền 150 triêu đồng. mà tiền ở đây được coi là tài sản theo quy định tại Điều 163 BLDS.

Hơn nữa tại Điều 471 Bộ luật Dân sự qui định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định”.

Như vậy pháp luật không quy định bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải lập thành văn bản và phải công chứng, chứng thực vì vậy hai bên hoàn toàn có thể thỏa thuận về hình thức của hợp đồng là giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể.

Tuy nhiên đối với phần lãi suất thì theo quy định của pháp luật  tại Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010.Như vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước là 13,5 % / năm ( 1,125%/tháng).

Như vậy,  bạn cho vay với mức lãi suất 7%/tháng là hành vi vi phạm pháp luật  về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên vì đã vượt quá lãi suất cho vay của Ngân hàngnhà nước. Khi có tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng vay thì Nhà nước không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước mà áp dụng các quy định hiện hành về lãi suất để áp dụng.

Vì vậy trước tiên bạn nên thỏa thuận với bạn của mình yêu cầu trả nợ số tiền 150 triệu. Nếu anh bạn đó vẫn cố tình không chịu trả và bỏ trốn thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người bạn đó cư trú, làm việc để được giải quyết và anh bạn đó có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 140 BLHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Trong trường hợp người đó không có hành vi "gian dối" cũng như "bỏ trốn" để chiếm đoạt tài sản thì chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự mà bạn chỉ có thể làm khởi kiện dân sự đòi lại tài sản theo hợp đồng vay.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi:  1900 6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê