Gần đây do người bạn A không đủ tin tưởng người B nên buộc người B làm 1 bản cam kết, nội dung yêu cầu người B phải trả đủ số tiền, nhưng không có hạn định thời gian. Nhưng nếu B không trả đủ hay trốn tránh việc trả nợ thì sẽ phải đền bù số tiền gấp nhiều lần, khoảng hơn 100 triệu. Nhưng theo A thì mục đích hợp đồng chỉ là răn đe người B trả nợ chứ không có ý đòi thêm, và bên A cũng chưa bao giờ đem hợp đồng ra dọa hay nhận tiền từ hợp đồng. Sau đó, người B dần không trả đủ, trốn tránh và nói là bị người A đe dọa khủng bố đòi nợ.

Xin cho hỏi nếu người B báo công an thì hồ sơ có được thụ lý không? Nếu có thì bên A có bị buộc tội hình sự, dân sự hay hành chính hay không? Quá trình công an giải quyết là bao lâu? Và có bị lưu trữ hồ sơ hình sự, cấm đi ra nước ngoài không? Do người  A sắp tới sẽ sang Mỹ định cư. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: A.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn cho vay có cam kết không trả phải đền bù gấp nhiều lần ? 

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2005

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003

-Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011

II. Nội dung phân tích

Theo như bạn trình bày, người A đã cho người B vay tiền, không tính lãi, chỉ lập một bản cam kết, thỏa thuận rằng người B nếu không trả đủ tiền hay trốn tránh việc trả nợ thì sẽ phải đền bù số tiền gấp nhiều lần, khoảng 100 triệu đồng.

Như vậy, chúng tôi nhận định, số tiền khoảng 100 triệu đồng được coi là thỏa thuận phạt vi phạm mà A và B đã thỏa thuận, và theo quy định tại khoản 2 điều 422 BLDS thì pháp luật không giới hạn mức phạt vi phạm, mà hoàn toàn do các bên thỏa thuận.

Điều 422 Bộ luật dân sự quy định: Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm  

"1. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.

3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm."

Vậy nên, B báo công an thì hồ sơ sẽ không được thụ lý để khởi tố hình sự  vì căn cứ để khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 100 BLTTHS: "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm." Theo như phân tích ở trên thì số tiền 100 triệu đó chỉ là tiền phạt vi phạm thôi nên sẽ không đủ để cấu thành tội phạm, vì vậy cơ quan điều tra sẽ không tiến hành khởi tố vụ án hình sự. B chỉ có thể khởi kiện ra Tòa án dân sự để giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Và pháp luật tố tụng dân sự không quy định bắt buộc A phải tham gia tố tụng. A có thể ủy quyền cho người khác tham gia hoặc yêu cầu xét xử vắng mặt. Và quá trình tố tụng này không hạn chế việc sang Mỹ định cư của A.

Về thời hạn giải quyết, theo quy định tại Điều 179 BLTTDS quy định:

"Điều 179. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.