Ngày 30.4.2001, bà D gọi anh T.K đến đưa cho anh  1 chỉ vàng nhưng ngày hôm sau vợ anh T.K lại đem trả lại chỉ vàng đó và yêu cầu bà D chia cho anh T.K một phần trong số vàng đào được, bà D không đồng ý.
Ngày 30.9.2001, anh T.K làm đơn khởi kiện bà D tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành – Tiền Giang vì lý do đã có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Anh
T.K yêu cầu mình là người phát hiện ra số vàng phải được chia một nửa số vàng đó.
Ngày 19.12.2001, Toà án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành hoà giải giữa anh T.K và bà D nhưng không thành.
Ngày 17.4.2002, Toà án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án “đòi quyền sở hữu tài sản” giữa nguyên đơn
T.K và bị đơn Nguyễn D.
Trong vụ này, lời khai của những người liên quan có sự mâu thuẫn nhau đó là:
Anh T.K và anh V khai số vàng đào được là 30 lượng vàng 9999 gói thành 3 gói, mỗi gói 10 lượng, đựng trong một lọ thủy tinh hiệu LM. Hũ vàng nặng khoảng hơn 1 kg. Anh
T.K, anh B cho rằng số vàng này là của ai đó chôn giấu ở gần khu vực nhà bà D rồi bị thất lạc.
Bà D, anh V, anh Ngô khai 3 gói vàng mỗi gói chỉ có 1 lượng vàng 9999, tổng số là 3 lượng đựng trong lọ thủy tinh hiệu LM. Hũ vàng nặng khoảng 2-3 lạng. Gia đình bà D cho rằng số vàng này là của ông V (chồng bà D) chôn dấu, sau đó bị tai nạn mất trí nhớ nên quên không đào lên.
Hãy cho biết:
1, Đối tượng tranh chấp?
2, Xác định tình trạng pháp lý của số vàng được tìm thấy?
3, Hãy nêu trình tự luật định khi một chủ thể muốn xác lập quyền sở hữu đối với tài sản chôn giấu được tìm thấy?
4, Quan điểm của giải quyết đối với tranh chấp trên? Tại sao?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sư của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Nội dung tư vấn:

Đối tượng tranh chấp: Hũ vàng

Điều 170. Căn cứ xác lập quyền sở hữu

Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

2. Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

3. Thu hoa lợi, lợi tức;

4. Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

5. Được thừa kế tài sản;

6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

7. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;

8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Điều 187. Quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu  

1. Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều  240. Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy  

Vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với vật đó được xác định như sau:

1. Vật được tìm thấy là di tích lịch sử, văn hoá thì thuộc Nhà nước; người tìm thấy vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;

2. Vật được tìm thấy không phải là di tích lịch sử, văn hoá, mà có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu vật tìm thấy có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước

=> Quan điểm về hướng giải quyết

- Trong trường hợp này thì hũ vàng là tài sản có căn cứ xác lập sở hữu theo khoản 6 điều 170: " Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên" 

 - Theo lời khai của bà D thì bà chưa chứng minh được hũ vàng là tài sản của gia đình bà. Vì vậy hũ vàng là tài sản bị chôn giấu không xác định được chủ. 

Như vậy người phát hiện ra tài sản là anh T.K phải báo cho UBND hoặc cơ quan công an hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xã, phường theo quy định tại điều 187 và tài sản được xử lý theo quy định tại điều 240 BLDS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.