Bà cụ bị gãy chân. Gia đình tôi có đưa bà vào viện điều trị. Hai gia đình thỏa thuận là cùng sai nên cùng chịu trách nhiệm chăm bà. Nhưng gia đình em phải chịu toàn bộ viện phí mặc dù gia đình họ biết gia đình tôi khó khăn. Sau 2 tuần ở viện bà cụ về nhà. Gia đình có đến thăm, nhưng khi bà tập đi được rồi gia đình tôi không đến nữa. Đầu tháng 7, gia đình họ chửi bới gia đình tôi và đòi làm đơn kiện. Theo luật sư thì gia đình tôi có bị gì không? Nếu bị kiện thì giải quyết như thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: P.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn giải quyết khi bị kiện tham gia giao thông gây tai nạn ? 

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

 Luật hình sự 1999 sử đổi bổ sung 2009

 Nghị quyết 03/2006/NQHĐTP: về bồi thường thiệt hại về hợp đồng.

 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKS-TAND:Hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông

2. Nội dung phân tích:

+) Thứ nhất: Trách nhiệm hình sự

Tháng 4/2015 bạn điều kiện phương tiện dưới 30km thì có bà cụ chạy sang đường và va vào bạn. Bạn và phái gia đình bà cụ đã tiến hành thỏa thuận bồi thường. Tuy nhiên đến đầu tháng 7 gia đình họ chửi bới và làm đơn kiện. Theo luật hình sự 1999 sử đổi bổ sung 2009 có quy định:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm...

Tuy nhiên tội này chỉ cấu thành khi bạn có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe bà cụ hoặc tài sản của bà cụ.

Thông tư 09/2013/TTLT:Hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn  giao thông

Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự)

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 227 Bộ luật hình sự.

2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202:

"b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng."

Trong vụ việc của bạn xảy ra trên không có sự tham gia của công an giao thông, cũng không có biên bản xác định hiện trường,tuy nhiên bạn có thể căn cứ vào quy định của luật để xác định được hành vi của bạn có cấu thành tội này không và lỗi vi phạm thuộc về ai.

Cụ thể: Bà cụ bị gẫy chân tuy nhiên chưa đạt hậu quả là: “gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe” (bà đã được ra viện). Có thể đi giám định thương tật, tuy nhiên nếu bà không đạt tỷ lệ thương tật % quy định, bạn không vi phạm quy định của luật giao thông đường bộ thì bạn không bị truy tố về tội danh này.

+) Thứ 2: Giải quyết khi bị khởi kiện:

Nếu như hiện nay bạn bị gia đình bà cụ khởi kiện dân sự khi không thỏa đáng về mức bồi thường.

 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Như vậy gia đình bà cụ có thể yêu cầu tòa giải quyết khi không thỏa đáng về mức bồi thường thiệt hại.  Tuy nhiên nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng cũng được quy định rõ trong nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP:

" d) Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại..."

Ngoài ra sẽ phải xem xét đến yếu tố lỗi khi bồi thường. Cụ thể theo Điều 617 BLDS 2005 quy định:

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê