Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn khởi kiện đòi tiền cho vay với giấy tờ viết tay và thời gian khởi kiện ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005 

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH 12 về án phí lệ phí và Danh mục án phí lệ phí kèm theo 

2. Nội dung phân tích:

Điều 471 Bộ Luật Dân sự quy định:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Điều 401 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: 

"1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Như vậy pháp luật không quy định việc cho vay tài sản phải bắt buộc công chứng hợp đồng cho vay. Do đó trong trường hợp trên bạn cho bạn của bạn vay tiền và chỉ có giấy viết tay vay nợ thì giấy viết tay đó được coi là một hợp đồng cho vay tài sản.

Điều 427 Bộ Dân sự năm 2005 quy định : " 

"Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm."

 Khoản 1 Điều 33 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: 

"1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này."

Và khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: 

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản." 

Như vậy căn cứ vào các điều 427 Bộ Luật dân sự năm 2005, điều 33 và điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2011 thì trong vòng 2 năm kể từ ngày hết hạn cho vay mà bạn của bạn không trả nợ bạn có thể khởi kiện yêu cầu đòi trả nợ đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay nợ đang cư trú.

Điều 26 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH 12 pháp lệnh án phí, lệ phí quy định : "Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí."

Theo khoản 2 mục I Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH 12 thì mức án phí sơ thẩm đối với những vụ án dân sự có giá ngạch như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Bạn là người khởi kiện đòi tài sản cho vay do đó bạn có nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí. Mức đóng tiền tạm ứng án phí được quy định tại Khoản 4 Điều 25 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí tòa án như sau:

"Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết".

 Trong trường hợp của bạn, bạn khởi kiện đòi nợ là 100 triệu đồng nên mức án phí của vụ án là 5 % của 100 triệu.  Do đó bạn phải đóng mức tạm ứng án phí là 2.5% của 100 triệu

Khoản 4 điều 18 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 quy định : "Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí Tòa án được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan đã thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí Tòa án phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ."  Khoản 1, 2 điều 27 cũng quy định: "1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận; 2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận." 

Như vậy sau khi giải quyết xong tranh chấp, căn cứ vào quyết định của Tòa án để xác định nghĩa vụ nộp tiền án phí của đương sự theo quy định nêu trên. Nếu yêu cầu đòi nợ của bạn được tòa án chấp  thuận thì số tiền bạn đã nộp tạm ứng án phí sẽ được hoàn trả và bị đơn sẽ là người phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khue