Sau nhiều lần tôi cũng gặp được và người này viết giấy cam kết ngày 5/2/2013 sẽ trả đầy đủ trong 1 năm, nhưng tới nay 10/2014 tôi vẫn chưa nhận được tiền. Tôi cố gắng liên lạc cũng không được, tới nhà gặp thì gia đình họ cũng không biết anh ta đi đâu. Vậy giờ tôi phải làm gì ? Tôi có thể khởi kiện được không ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Bộ luật dân sự 2005

Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Nội dung tư vấn:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu thì bạn cho người khác vay 7 chỉ vàng SJC. Những giao dịch liên quan đến vàng là giao dịch đặc thù và chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, trực tiếp là Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Để tạo khung pháp lý trong việc quản lý hoạt động này, Chính phủ đã ban hành các văn bản như: Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NĐ-CP. Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng ban hành các văn bản quản lý như: Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng; thông tư số 24/2012/TT-NHNN ngày 23/8/2012 sửa đổi bổ sung thông tư 11/2011/TT-NHNN.

Và mới đây nhất là Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã quy định rõ hơn về quyền sở hữu vàng của cá nhân. Tại Điều 4 nguyên tắc quản lý, quyền sở hữu vàng được khẳng định “Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Nhưng tổ chức, cá nhân cũng chịu một số hạn chế như:

- Chỉ được thực hiện việc mua bán vàng miếng tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng (Điều 10).

- Cấm mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định không có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp.

- Cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.

Ngoài một số hạn chế trên thì đến thời điểm này, chưa có văn bản pháp luật nào cấm cá nhân được cho vay vàng với cá nhân khác. Về Nghị định số 95/2011/NĐ-CP của Chính phủ như bạn dẫn chiếu và Nghị định số 202/2004/NĐ-CP, đây là Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Liên quan đến hoạt động cho vay thì hai nghị định chỉ chỉ ra những vi phạm liên quan đến cho vay trong nước bằng ngoại tệ không đúng quy định của pháp luật, vi phạm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng…. Về cho vay vàng giữa cá nhân thì chưa có quy định nào (ngoài các hành vi vi phạm liên quan đến vàng dưới đây: Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng vàng với nhau không đúng quy định của pháp luật; Kinh doanh, mua, bán vàng không đúng quy định của pháp luật).

Như vậy thì đến thời điểm này pháp luật vẫn chưa cấm giao dịch cho vay vàng giữa các cá nhân nên giao dịch của bạn vẫn hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Bên vay có nghĩa vụ như sau theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

“Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Do đó, nếu hết thời hạn vay mà người đó vẫn không trả tiền cho bạn đồng thời cũng không xác định được địa chỉ của người đó thì bạn có thể sử dụng các cách thức sau để bảo vệ quyền lợi cho bạn:

Thứ nhất, bạn có thể báo cơ quan công an, tòa án, Viện kiểm sát khi thấy người vay tiền của bạn có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự 1999:

“Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Thứ hai, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, sinh sống hoặc làm việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 để yêu cầu tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

“Điều 4. Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. 

Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ.