Em viết đơn kiện ông A thì ông B là bố của A hứa là sẽ trả món tiền trên và cũng viết một giấy nhận nợ khác, nhưng giờ ông B không trả món tiền trên và bảo rằng em cứ kiện ra tòa đi.

Em xin cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục  tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn khởi kiện về việc nhận tiền mà không xin việc cho người khác ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

 

Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự 1999

Nội dung

Theo như bạn nêu thì bạn có giao cho ông  A một khoản tiền để nhờ họ xin việc giúp. Ở đây bạn cần hiểu rõ bản chất trong hành vi của bạn là đưa hối lộ còn ông A chính là nhận hội lộ, hành vi của bạn và ông A thỏa mãn cấu thành tội phạm đối với ông A là tội nhận hối lộ nếu ông A là người có chức vụ, quyền hạn ( theo điều 279 Bộ luật hình sư 1999) còn nếu không có chức vụ quyền hạn thì sẽ có cấu thành tội mô giới hối lộ theo quy định tại điều 290 Bộ luật hình sự 1999 còn đối với  hành vi của bạn sẽ cấu thành tội đưa hối lộ theo điều 289 Bộ luật hình sự.

Như vậy, bạn cần xác định rõ xem trong giấy ghi nợ ghi là bạn cho vay tiền hay ghi là bạn đưa tiền nhờ xin việc giúp, vì nếu ghi là cho vay tiền và khi bạn đi chuyển tiền thì nội dung cũng ghi là cho vay tiền chứ không phải là tiền xin việc, bên cạnh đấy, bạn phải bảo đảm rằng bên kia họ không giữ bằng chứng là bạn đưa tiền nhờ họ xin việc thì đây chỉ là tranh chấp dân sự bình thường và bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa theo quy định của pháp luật dân sự để kiện đòi  lại tài sản cho mình. 

Còn nếu như mà trong giấy ghi nợ ghi rõ nội dung là bạn đưa tiền nhờ xin việc giúp hoặc họ còn giữ các cuộc trao đổi giữa bạn và họ về việc có nội dung liên quan đến thỏa thuận giao nhận tiền để xin việc giúp bạn thì đây không phải là vụ việc có tình chất dân sự nữa mà nó đã có tính chất hình sự, có nghĩa là có dấu hiệu tội phạm. Như vậy, nếu như bạn kiện ra Tòa mà phía bên công an họ phát hiện có dấu hiệu tội phạm họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khi đấy cả hai bên đều bất lợi vì có thể đều sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh khác nhau như đã phân tích ở trên.

Do bạn có hành vi đưa tiền nhằm mục đích xin việc cho mình và số tiền bạn đưa cho họ là bốn mươi triệu đồng nên bạn có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 289 Bộ luật hình sự 1999.

"Điều 289. Tội đưa hối lộ  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ".

Trong điều luật này, tại khoản 6 có một quy định là nếu người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ tài sản đã dùng để đưa hối  lộ. Như vậy, nếu như bạn chủ động khai báo với cơ quan công an trước khi hành vi của mình bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền dùng để đưa hối lộ. Ở đây nhà làm luật dùng từ có thể như vậy có thể được miễn hoặc sẽ không được miễn phụ thuộc vào biểu hiện hợp tác cũng như mức độ nghiêm trọng của hành vi bạn gây ra mà cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét có miễn trách nhiệm hình sự cho bạn được không. 

Trong trường hợp này, ông A nhận số tiền là 40 triệu đồng, do đó, mức hình phạt mà ông A có thể phải chịu là: 

- Nếu như ông ấy là người có chức vụ quyền hạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 279 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 279. Tội nhận hối lộ  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác".

- Nếu như ông A là người không có chức vụ, quyền hạn thì ông A có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội làm mô giới hối lộ theo quy định tại khoản 2  điều 290 Bộ luật hình sự 1999.

"Điều 290. Tội làm môi giới hối lộ 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự".

Như vậy, từ các phân tích trên của chúng tôi và  dựa theo tình hình thực tế, những giấy tờ, thông tin mà bạn có trong tay, bạn nên lựa chọn cách thương lượng với ông A để tránh trường hợp dẫn đến các bên đều có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hoặc có căn cứ cho rằng đây là là những tranh chấp liên quan đến dân sự thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ