Như vậy, bên A có được lãi suất chậm thi hành án không? Lãi suất tính như thế nào? Tính lãi suất của 250 triệu đồng hay của 150 triệu đồng hay tính theo từng tháng (vì bên B trả mỗi tháng 5 triệu đồng)? Bên A nên tiếp tục nộp đơn thưa kiện với số tiền 250 triệu đồng ở trên hay 150 triệu đồng? Mong được tư vấn sớm.

Em cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn lãi suất đối với hành vi trả chậm trả nợ ?

Luật sư tư vấn trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Luật thi hành án dân sự năm 2008;

Thông tư số 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính về thi hành án dân sự;

Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản;

Công văn 614/BTP-TCTHADS của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án

Nội dung tư vấn:

Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì về nguyên tắc bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án (Khoản 2, Điều 7 Luật thi hành án dân sự).

Tuy nhiên, trên thực tế, có những đối tượng không nghiêm túc chấp hành việc thi hành án theo quy định của pháp luật như với trường họp của bạn. Với trường hợp đương sự không chịu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì lãi suất tính cụ thể ra sao, hiện nay pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể. Trên thực tế, các cơ quan thi hành án thường căn cứ vào tinh thần của một số văn bản sau đây để giải quyết trường hợp của bạn:

Khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định về tính lãi suất chậm thi hành án: “Để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án, hạn chế việc bên phải thi hành án cố tình dây dưa, không tự nguyện thi hành án, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án, khoản tiền phải nộp để đưa vào ngân sách Nhà nước (tiền tịch thu, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền phạt), toà án phải quyết định rõ trong bản án hoặc quyết định là kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 phần 1 Thông tư này về các khoản vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Khi tính lãi chỉ tính lãi số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án”.

Mặt khác, căn cứ quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp, trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày thu tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải tiến hành chi trả cho các đối tượng được thi hành án. Về mức lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền chưa trả trong quá trình thi hành án.

Do đó, để thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án thì khi thanh toán tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải xác định số tiền đã thi hành xong, bao gồm cả lãi suất chậm thi hành án, số tiền còn phải thi hành tại thời điểm đó. Vì thế, cơ quan thi hành án phải tính lãi đến thời điểm thanh toán tiền thi hành án để đảm bảo dứt lãi đến thời điểm đó, số tiền gốc còn lại tiếp tục phát sinh lãi suất chậm thi hành án. Bởi vậy, cơ quan thi hành án phải tính lãi trước và chi trả cho người được thi hành án.

Khoản 2 Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ số tiền đã vay của bên A. Trường hợp bên B chậm thi hành án thì bên B phải trả cả lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Số tiền chậm trả sẽ được tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, theo Điều 476 BLDS 2005. 

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm. Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm. Do đó, theo thông tin bạn cung cấp, BLDS 2005 và Công văn 614/BTP-TCTHADS của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án, số tiền lãi suất chậm thi hành án được tính như sau:

- Số tiền còn lại bên B chưa trả: 250.0000.000 - 100.000.000 = 150.000.000 đồng.

- Số tiền lãi chậm thi hành án trong 1 năm là: 250.000.000 x 9% = 22.500.000 đồng.

Do đó, bạn không nhất thiết phải tiếp tục tiến hành khởi kiện một vụ án mới mà có thể yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.

Bộ phận tư vấn Luật Dân sự ./.