Vì thế trong hợp đồng tôi phải thể hiện như thế nào để tránh được tình trạng này?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn lập hợp đồng dân sự tránh hợp đồng ảo ? 

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ  luật Dân sự 2005

- Luật Thương mại 2005

Nội dung phân tích:

Để hợp đồng dịch vụ giữa đơn vị vận tải của bạn với bên được đơn vị bạn cung cấp dịch vụ có hiệu lực thì bản thân hợp đồng đó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng dân sự, các điều kiện đó tùy theo tính chất, đặc điểm của các hợp đồng mà sẽ có sự khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại thì có ba điều kiện cơ bản để một hợp đồng khi đáp ứng các điều kiện đó sẽ có hiệu lực theo luật định là điều kiện về mặt chủ thể; điều kiện về mặt nội dungđiều kiện về mặt hình thức.

1.Chủ thể tham gia Hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự

- Đối với cá nhân: phải có tư cách chủ thể tức năng lực chủ thể tương ứng. Năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào Hợp đồng phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự của họ.

- Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác: Pháp nhân là tổ chức có đủ các điều kiện được quy định tại điều 84 Bộ Luật dân sự 2005; phạm vi hoạt động của tổ hợp tác được quy định tại Điều 111 và phạm vi hoạt động của hộ gia đình được quy định tại Điều 106 Bộ Luật dân sự 2005.

2. Về mặt hình thức của hợp đồng dân sự

Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định. Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thể.

Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự như sau:

"1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".

Theo khoản 1, Điều 124 Bộ Luật dân sự 2005 và Điều 15 Luật Thương mại 2005: “trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản”.

Từ quy định trên có thể thấy hình thức của hợp đồng dân sự rất đa dạng, phong phú như hình thức miệng (bằng lời nói), hình thức viết (bằng văn bản), hình thức bằng văn bản có công chứng, chứng thực, bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ cơ thể…),...

  Trong các hình thức hợp đồng trên thì hình thức văn bản có công chứng, chứng thực này có giá trị chứng cứ (để chứng minh) cao nhất. Hợp đồng loại này có giá trị chứng cứ cao nhất chứ không phải có giá trị cao nhất vì các hợp đồng được lập ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị pháp lý như nhau. Tuy nhiên, do hợp đồng của bạn là hợp đồng cung cấp dịch vụ không nằm trong những loại hợp đồng bắt buộc công chứng chứng thực nên bạn nên bạn nên lập hợp đồng dưới hình thức viết (bằng văn bản) (có công chứng nếu có điều kiện).

3. Nội dung, mục đích của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

Hợp đồng lập ra nhưng không phản ánh đúng bản chất quan hệ đích thực giữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác lập Hợp đồng để che đậy một giao dịch khác hay một hành vi trái pháp luật của một bên hoặc các bên (nói cách khác đó là sự thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia); Xét yếu tố tự nguyện dựa trên sự thống nhất ý chí với sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài, thì những giả tạo thuộc trường hợp không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong với hành vi xác lập Hợp đồng của chủ thể, nên giả tạo cũng bị coi là thiếu sự tự nguyện.

Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nội dung của hợp đồng dân sự như sau:

 "Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

      1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm

      2. Số lượng, chất lượng;

      3. Giá, phương thức thanh toán;

      4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

      5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;

      6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

      7. Phạt vi phạm hợp đồng;

      8. Các nội dung khác".

Ngoài ra trong hợp đồng dân sự còn có thể có phụ lục của của hợp đồng. Điều 408 của Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định về phụ lục hợp đồng như sau:

1. Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.

2. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.

Về nguyên tắc hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Tuy nhiên thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự còn được xác định theo sự thỏa thuận hoặc theo sự quy định của pháp luật. Vì vậy hợp đồng dân sự được coi là có hiệu lực vào một trong các thời điểm sau đây:

      Hợp đồng bằng miệng hoặc bằng các hành vi cụ thể có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thỏa thuận với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng.

      Hợp đồng bằng văn bản thường, có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hợp đồng.

      Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép có hiệu lực tại thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép.

      Ngoài ra hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau thời điểm nói trên nếu các bên đã tự thỏa thuận với nhau hoặc trong trường hợp pháp luật đã quy định cụ thể

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng, xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là xác định được thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên với nhau, và đặc biệt là khi giải quyết các tranh chấp về tài sản trong hợp đồng mà quy ra thành tiền thì xác định giá trị của tài sản đó theo thời giá thị trường tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Đồng thời hiệu lực của hợp đồng cũng là một trong những căn cứ để xem xét về tính hợp lệ và thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự (ví dụ: khi hợp đồng được giao kết nhưng chưa có hiệu lực thì các tranh chấp nếu có sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết tại thời điểm đó).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn căn cứ vào các quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thông tin do khách hàng cung cấp. Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi 1900 6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.