Người gửi: P.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự  của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn lây lại tài sản đã ký hợp đồng nhưng chưa được giao hàng ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005.

- Bộ luật hình sự 1999

- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

Nội dung phân tích:

Trong trường hợp của bạn, bạn nhờ bà ni mua giúp xe bằng lời nói và bà ấy đồng ý thì đương nhiên giữa bạn và người bạn nhờ mua xe đó đã xác lập hợp đồng ủy quyền mua bán hàng hóa theo hình thức bằng lời nói.

Theo điều  điều 581 về hợp đồng uỷ quyền, BLDS quy định:

"Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Căn cứ vào điều 584 về nghĩa vụ của bên được uỷ quyền:

"Bên được uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;

2. Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;

3. Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;

4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;

5. Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;

6. Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này"

Và điều 587 vè quyền của bên uỷ quyền:

"Bên uỷ quyền có các quyền sau đây:

1. Yêu cầu bên được uỷ quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc uỷ quyền;

2. Yêu cầu bên được uỷ quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc uỷ quyền, nếu không có thoả thuận khác;

3. Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 584 của Bộ luật này."

Theo đó, khi mua được chiếc xe và bạn có yêu cầu trả lại thì người mua hộ phải giao lại tài sản đó cho bạn, nếu hai người có thỏa thuận về chi phí thực hiện công việc đó thì bạn phải hoàn trả thù lao cho người đó.

Trong trường hợp này, bà ni không giao tài sản là chiếc xe cho bạn đã vi phạm về nghĩa vụ của người được ủy quyền với người đã ủy quyền theo điều 584 và người này phải bồi thường thiệt hại cho bạn.

Nếu người này không chịu trả và cố tình chiếm đoạt tài sản này, căn cứ vào điều 141 về tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại Bộ luật hình sự 1999:

"1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

Nếu giá trị chiếc xe mà bạn nhờ mua hộ và đã giao cho người mua hộ một khoản tiền lớn hơn 5 triệu và nhỏ hơn 200 triệu đồng mà người đó cố tình không giao tài sản lại cho bạn thì bạn có thể khởi kiện và yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó.

Trường hợp khoản tiền mà bạn đưa nhờ người kia mua hộ tài sản nhỏ hơn 5 triệu đồng mà người kia không giao tài sản cho bạn khi bạn yêu cầu thì chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm và không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với người đó. Do đó, căn cứ vào khoản 2, điều 15, nghị định 167/2013:

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;
c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;
d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;
đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;
e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

Ban tư vấn Luật dân sự.