Khi về quê vợ làm giấy khai sinh cho con, chúng tôi không nhập hộ khẩu cho con theo bên mẹ vì có ý định sống ở vĩnh long. Sau đó tôi về công an xã của tôi để xin nhập tên con tôi vào sổ hộ khẩu của gia đình nhưng bị công an xã từ chối xác nhận với lý do là đã bán nhà đi khỏi địa phương. Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Xin hỏi tôi có được nhập con tôi vào hộ khẩu không? Tôi là người vô gia cư, chỉ ở tạm trú thì con tôi có đi học được không ? Gia đình tôi từ khá rớt xuống thành vô gia cư chứ không nghèo sẵn nên không có sổ hộ nghèo, vậy có thể làm đơn xin đất cất nhà hay xin hỗ trợ gì được không ? Đó là 3 nỗi lo của gia đình tôi , kính mong luật sư tư vấn. Xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn nhập tên con vào sổ hộ khẩu?

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Cư trú số 81/2006/QH11 sửa đổi bổ sung 2013

Nghị định số 31/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú

Quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo

Quyết định 33/2015/QĐ-TTg chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo 2011 2015

Thông tư 04/2007/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm

Nội dung tư vấn:

- Việc nhập tên con bạn vào sổ hộ khẩu:

Vì gia đình bạn đã đăng ký thường trú và có sổ hộ khẩu ở Vĩnh Long nhưng nhà đã bán nên bạn không thể đăng ký nhập tên con bạn và sổ hộ khẩu này được. Để nhập tên con vào sổ hộ khẩu thì trước tiên, gia đình bạn cần làm thủ tục thay đổi nơi thường trú ở nơi cư trú mới nếu như nơi ở đó hợp pháp. Điều 19 Luật cư trú 2006 quy định về điều kiện đăng ký thường trú tại tình như sau:

"Công dân có chỗ ở hợp pháp ở tỉnh nào thì được đăng ký thường trú tại tỉnh đó. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản."

 Khoản 4 điều 29 Luật cư trú 2006 quy định:

"4. Trường hợp chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới trong phạm vi xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh; chuyển đi trong cùng một huyện, quận, thị xã của thành phố trực thuộc trung ương; chuyển đi trong cùng một thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì chủ hộ hoặc người trong hộ hoặc người được uỷ quyền phải làm thủ tục điều chỉnh. Người đến làm thủ tục điều chỉnh phải nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; xuất trình sổ hộ khẩu; giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp mới."

Theo khoản 1, 2, 3 điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP nơi cư trú của công dân được quy định như sau:

"1. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống.

Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại Khoản 1 Điều này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

3. Chỗ ở hợp pháp bao gồm:

a) Nhà ở;

b) Tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân;

c) Nhà khác không thuộc Điểm a, Điểm b Khoản này nhưng được sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

4. Không đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng;

b) Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép;

c) Chỗ ở đã có phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp những người có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau);

d) Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trưng mua theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

đ) Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Điểm b khoản 1 điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định về Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp như sau:

"b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân (trường hợp văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã). Đối với nhà ở, nhà khác tại thành phố trực thuộc trung ương phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về điều kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương và được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý băng văn bản;"

Như vậy, sau khi đã đủ điều kiện thay đổi hộ khẩu thường trú và làm thủ tục thay đổi nơi thường trú thì bạn có thể nhập tên con vào sổ hộ khẩu. Thủ tục đăng ký thường trú được quy định tại điều 21 Luật cư trú 2006 như sau:

"1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

 b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do."

- Tôi là người vô gia cư, chỉ ở tạm trú thì con tôi có đi học được không?

Nếu gia đình bạn chỉ đăng ký tạm trú mà khi con bạn đi học thì tùy thuộc vào điều kiện, chính sách của địa phương... thì con bạn sẽ được xét vào diện được đi học.

- Về việc xin được hỗ trợ:

Theo điều 1 Quyết định 09/2011/QĐ-TTg quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

"1. Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.

2. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.

3. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.

4. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng."

Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. 
Về thủ tục để được xác nhận và cấp sổ hộ nghèo phải tuân theo một số bước cụ thể (theo quy định tại Thông tư 04/2007/TT-BLĐTBXH ngày 28-2-2007).

Hằng năm UBND cấp xã lập ban chỉ đạo bao gồm các trưởng thôn, đại diện chi hội, đoàn thể ở xã để khảo sát mức thu nhập của từng hộ thuộc đối tượng hộ nghèo. Lập danh sách đề nghị xác nhận hộ nghèo. Sau đó UBND xã phải tổ chức hội nghị họp các hộ dân trong xã để bình chọn công khai, dân chủ với sự tham gia của các cơ quan đảng, đoàn thể tại cơ sở. Căn cứ biên bản buổi họp bình xét hợp lệ, UBND cấp xã lập danh sách hộ nghèo và trình UBND cấp huyện để phê duyệt.

Đối với cấp huyện thì Phòng Nội vụ - Lao động:

- Đề xuất với Uỷ ban nhân dân huyện kế hoạch rà soát, xác định hộ nghèo; phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo việc rà soát hộ nghèo;

- Tổ chức thẩm định kết quả rà soát hộ nghèo do các xã gửi lên; trường hợp thấy số liệu phản ánh chưa đúng tình hình thực tế của địa phương, có thể tổ chức kiểm tra lại kết quả rà soát.

- Trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt danh sách hộ thoát nghèo, hộ nghèo mới, danh sách hộ nghèo trên địa bàn huyện, thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã công nhận và báo cáo Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh;

Ở cấp tỉnh (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội):

- Đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh kế hoạch rà soát; thống nhất in ấn mẫu biểu rà soát trên địa bàn.

- Phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo thực hiện việc rà soát;

- Trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kết quả rà soát hộ nghèo hàng năm và báo cáo văn phòng Ban chỉ đạo giảm nghèo của Chính phủ (tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội);

Đối chiếu với những quy định nêu trên nếu xét thấy gia đình mình đủ điều kiện thuộc diện hộ nghèo theo quy định thì gia đình bạn liên hệ cán bộ Lao động Thương binh xã hội nơi gia đình bạn cư trú để được hướng dẫn thủ tục cấp sổ hộ nghèo.

Sau khi được cấp sổ hộ nghèo thì gia đình bạn có thể làm đơn xin hỗ trợ cấp đất hoặc các hỗ trợ khác nếu địa phương bạn có chính sách dành cho hộ nghèo. Khoản 1, 2 điều 2 Quyết định 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định đối tượng, điều kiện hỗ trợ nhà ở như sau:

"1. Đối tượng

Hộ gia đình được hỗ trợ xây dựng nhà ở theo quy định của Quyết định này phải là hộ nghèo theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành và là hộ độc lập có thời gian tách hộ đến khi Quyết định này có hiệu lực thi hành tối thiểu 05 năm.

2. Điều kiện

a) Chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở;

b) Chưa được hỗ trợ nhà ở từ các chương trình, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội khác;

c) Trường hợp đã được hỗ trợ nhà ở theo các chương trình, chính sách hỗ trợ nhà ở khác thì phải thuộc các đối tượng sau: Nhà ở đã bị sập đổ hoặc hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ do thiên tai gây ra như: Bão, lũ, lụt, động đất, sạt lở đất, hỏa hoạn nhưng chưa có nguồn vốn để sửa chữa, xây dựng lại. Đã được hỗ trợ nhà ở theo các chương trình, chính sách hỗ trợ nhà ở khác có thời gian từ 08 năm trở lên tính đến thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng nay nhà ở đã hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sụp đổ."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.