Sau khi ông tôi mất đã có biên bản phân chia tài sản và được chính quyền địa phương xác nhận trong đó 100m2 cho riêng bố tôi, 200m2 cho vợ thứ nhất của bố tôi (đã ly hôn và có quyết định của tòa) và còn lại là cho 2 bác của tôi (đã rõ ràng trên biên bản chia đất đai được chính quyền đóng dấu xác nhận). Hiện nay sổ đỏ của cả khu đất chưa được tách ra mà vẫn đứng tên của ông nội tôi. Vừa qua, bố tôi đã mất đột ngột và không để lại di chúc. Vậy Luật sư cho tôi xin ý kiến về số đất 100m2 của bố tôi thì vợ thứ 2 (có giấy chứng nhận kết hôn) và tôi là con của vợ thứ 2 có được thừa kế số đất riêng của bố tôi không?

Và hiện nay vợ thứ nhất(đã ly hôn) của bố tôi không cho mẹ con tôi tách sổ đỏ phần đất riêng của bố tôi và đòi chia thêm số đất đó của bố tôi để lại. Vậy về pháp luật có đúng không? Mẹ con tôi muốn tách sổ đỏ thì phải làm sao thưa luật sư?

Kính mong Luật sư tư vấn giúp tôi và tôi rất mong nhận được trả lời sớm của Quý Cty.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Khoa Nguyen

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Cảm ơn bạn đã gửi câu trả lời của mình tới chuyên mục. Những băn khoăn của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Câu hỏi thứ nhất của bạn là:  Vợ thứ 2 ((có giấy chứng nhận kết hôn) và bạn) là con của vợ thứ 2))  có được thừa kế số đất riêng 100m2 của bố bạn không?

Theo như trong thư bạn viết thì bố bạn mất đột ngột không để lại di chúc. Vì vậy, trong trường hợp này việc phân chia di sản của bố bạn ( tức số đất100m2) sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về thừa kế theo pháp luật thì tại điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định những người thừa kế theo pháp luật bao gồm:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Áp dụng theo quy định trên thì bạn và mẹ bạn ( người vợ thứ hai- có giấy chứng nhận kết hôn) thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bởi vậy, 2 mẹ con bạn hoàn toàn có quyền thừa kế số đất riêng 100m2 của bố bạn.

Câu hỏi thứ hai: vợ thứ nhất(đã ly hôn) của bố bạn không cho mẹ con bạn tách sổ đỏ phần đất riêng của bố bạn và đòi chia thêm số đất đó của bố tôi để lại. Vậy về pháp luật có đúng không? Mẹ con bạn muốn tách sổ đỏ thì phải làm thế nào?

Vì người vợ thứ nhất đã ly hôn với bố bạn ( có quyết định của Tòa án) nên không còn là vợ chồng, do vậy, người vợ thứ nhất không được quyền thừa kế số đất đó của bố bạn. Người vợ thứ nhất của bố bạn cũng không được phép ngăn cấm việc mẹ con bạn muốn tách sổ đỏ phần đất riêng của bố bạn.

Để có thể được tách thửa, phải đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của UBND cấp tỉnh nơi có đất. Do bạn không nêu cụ thể thửa đất ở tỉnh nào nên tôi không thể cung cấp quy định chính xác cho bạn được. Ví dụ như nếu bạn ở Hà Nội thì việc tách thửa đất sẽ được thực hiện theo Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND về việc quy định về hạn mức giao đất ở mới, hạn mức công nhận đất ở. Tại khoản 1 Điều 3 Quyết định này quy định: “

Thửa đất được hình thành từ việc tách thửa và thửa đất còn lại sau khi tách thửa nếu đảm bảo các điều kiện sau thì được cấp Giấy chứng nhận:

a) Có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên;

b) Có diện tích không nhỏ hơn 30m2/thửa;”

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của bạn khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên, theo tôi, bạn nên trực tiếp liên hệ UBND quận, huyện nơi có đất để được cung cấp đầy đủ thông tin về quy hoạch cũng như điều kiện được phép tách thửa.

Nếu còn gì thắc mắc, bạn hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được luật sư tư vấn hướng dẫn tận tình!

Tham khảo một số văn bản pháp lý liên quan:

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11;

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (Hết hiệu lực một phần);

- Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Hết hiệu lực một phần);

- Quyết định 39/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Điều 121 của Luật Xây dựng;

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (Hết hiệu lực một phần);

- Thông tư 06/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

-  Quyết định 26/2008/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội về việc Quy định về hạn mức giao đất ở mới, hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất có vườn, ao trong khu dân cư hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 1/7/2004 và kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội (hết hiệu lực - Chỉ có giár tị tham khảo thêm).

- Quyết định 117/2009/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội về việc: ban hành Quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Quyết định 19/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định về hạn mức giao đất ở mới; hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất trong khu dân cư có đất ở và đất vườn, ao liền kề; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội

 

Ý kiến thứ hai:

Cảm ơn  bạn đã gửi câu hỏi tới cho công ty chúng tôi, vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất, mẹ bạn ( vợ thứ hai của bố bạn) và bạn có được thừa kế số đất riêng của bố bạn.

Như bạn đã nói, quyền sử dụng 100m2 đất đó là bố bạn được ông nội bạn cho riêng ( đã có biên bản phân chia tài sản được chính quyền địa phương xác nhận khi ông nội bạn mất) thì đó chính là tài sản riêng của bố bạn(dù được cho trước khi bố bạn ly hôn với vợ thứ nhất thì nó vẫn là tài sản riêng ) – bạn có thể xem thêm Điều 32, Khoản 1 Điều 95, 97 Luật hôn nhân gia đình 2000).

Khi bố bạn mất thì đó là di sản thừa kế của bố bạn để lại. Bố bạn mất không để lại di chúc thì phần di sản thừa kế này sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ theo Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì mẹ bạn (vợ thứ 2) – người vợ hợp pháp hiện nay của bố bạn và bạn là người thừa kế theo pháp luật, thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bạn và mẹ bạn sẽ được thừa kế về số đất riêng đó nếu hai người không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự 2005, quy định về những người không được quyền hưởng di sản:

“ a, Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b, Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c, Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phầm hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng”

Thứ hai, vấn đề bạn hỏi: vợ thứ nhất ( đã ly hôn) của bố bạn không cho mẹ con bạn tách sổ đỏ và đòi chia thêm phần đất 100m2 của bố bạn, như vậy có đúng pháp luật không? Thủ tục tách sổ đỏ như thế nào?

 Chúng tôi xin trả lời như sau:

Như những gì bạn nói chúng tôi hiểu là: bố bạn và vợ thứ nhất của ông đã ly hôn (có quyết định của tòa án rồi), sau đó bố bạn kết hôn với mẹ bạn và hiện giờ ông đã mất.

Khi bố bạn và vợ thứ nhất ly hôn thì quan hệ hôn nhân chấm dứt,do đó giữa hai người không còn ràng buộc pháp lý gì cả nên khi bố bạn mất (không để lại di chúc) thì vợ thứ nhất của ông không có quyền hưởng di sản,như vậy yêu cầu đòi chia thêm phần đất riêng của bố bạn của người vợ thứ nhất(của bố bạn) là không có căn cứ.

Bạn và mẹ bạn có thể tách số đỏ, thủ tục như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 19 Nghị định 84/2007/ NĐ-CP

Hồ sơ gồm có:

- Đơn xin tách thửa theo mẫu;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ thửa đất đứng tên ông bạn);

- Biên bản phân chia tài sản đã được công chứng, chứng thực;

- Hộ khẩu, chứng minh thư của những người liên quan;

- Căn cứ Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, trong trường hợp này bạn và mẹ bạn được miễm thuế thu nhập cá nhân, vì vậy bạn cần gửi các giấy tờ chứng minh quan hệ vợ chồng giữa bố mẹ bạn ( giấy chứng nhận đăng ký kết hôn), cha – con ( giấy khai sinh của bạn)

- Nộp hồ sơ tại: phòng Tài nguyên và môi trường, phòng sẽ chuyển cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Trường hợp  mảnh đất ở khu vực nông thôn thì có thể gửi cho UBND địa phương để UBND chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

- Thời hạn giải quyết:  15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ ( trường hợp phải trích đo địa chính thì không quá 30 ngày)

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

---------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;