Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự: 1900 6162

 

 

Trả lời:

Chào bạn, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bộ luật Dân sự năm 2005.

2. Luật sư tư vấn:

Trường hợp của bạn có nhắc đến "sang tên sổ đỏ" thì có thể hiểu thành 2 trường hợp sau:

- Một là, sang tên với ý nghĩa là tặng cho nhà đất từ người chồng sang người vợ.

- Hai là, sang tên với ý nghĩa là để người vợ cùng đứng tên trên sổ đỏ.

Đối với trường hợp thứ nhất, sang tên với ý nghĩa là tặng cho tài sản. Khi bố bạn tặng cho nhà đất cho người vợ thì đương nhiên trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bố bạn - người đã tặng cho, không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa.

Điều 465 BLDS 2005 quy định về hợp đồng tặng cho tài sản: 

"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận".

Điều 467 BLDS quy định về tặng cho bất động sản:

"1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản".

Theo khoản 2 Điều 467 BLDS thì đối với tài sản là nhà đất thì pháp luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì thời điểm hoàn thành hợp đồng tặng cho là thời điểm hoàn thành thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.

Đối với trường hợp thứ hai, sang tên với ý nghĩa là để người vợ cùng đứng tên trên sổ đỏ. Khi đó, trường hợp này được hiểu là việc bố của bạn nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng. Và lúc này, tài sản đó trở thành tài sản chung của vợ chồng và cả 2 vợ chồng cùng có quyền định đoạt đối với tài sản này.

Điều 46 Luật HNGD 2014 quy định về nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung như sau:

"1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê