Ông nội và bà nội tôi có với nhau 6 người con. Đến năm 1993 ông nội tôi qua đời mà không để lại di chúc. Sau đó 2 người con của ông nội tôi cũng qua đời. Mãi đến năm 2003 người chị hai và người con thứ 3 có đơn yêu cầu chia thừa kế, do đó buổi hòa giải tại khu vực không thành. Nhưng mãi đến nay vẫn chưa có bản án quyết định của tòa án.

Như vậy, xin quý công ty vui lòng cho tôi biết là thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết sẽ trở thành tài sản chung. Dù hết thời hiệu về thừa kế nhưng vào năm 2003 cũng đã có đơn yêu chia thừa kế như vậy có thể xem đơn khởi kiện về thừa kế là đơn yêu cầu chia tài sản chung hay không? Có phải chị 2 và người con thứ 3 đã hết quyền trong khối tài sản trên.

Xin Quy công ty cho tôi biết rõ. Chân thành cảm ơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Nội dung phân tích:

Điều 645 Bộ luật dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

"Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Tuy nhiên, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định như sau:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Trong trường hợp này do có thủ tục hòa giải thì đây là tranh chấp về di sản thừa kế và giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Do đã hết thời hạn 10 năm nếu tòa không có quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ thì khi giải quyết thì theo như quy định trên sẽ không giải quyết về việc chia thừa kế nữa mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự.