Và bằng chứng rành rành là hễ chỗ nào có đất của ông cố đều được đóng cọc thành ba nghĩa là chia cho ba người đồng đều. Nhưng vì lúc ông cố tôi qua đời chỉ để lại di chúc bằng miệng không bằng một văn bản cụ thể nào, Chính vì vậy hai người người con của ông cố đã sửa đổi lại, mặc dù lúc đó có nhân chứng nhưng họ đều “thuộc phe” của hai người kia. Như vậy cho tôi được hỏi, Nếu như xảy ra tranh chấp thì phần thắng của mẹ tôi là bao nhiêu phần trăm?

Mặc dù ông cố tôi mất cách đây 10 năm rồi, sau khi ông cố tôi mất thì người ta tiến hành đo đạc để đóng cọc. Nhưng cái tôi thắc mắc là với khoảng thời gian như vậy thì đã có sổ bàn khoán chưa (tức người chủ đứng tên?)

Về mặt pháp lý, nếu đất đai đã được chia đều cho từng người, nhưng nếu như người này lên chánh quyền để sửa lại di nguyện của ông cố tôi thì có được không? Tôi nghĩ là không được nhưng người ta có quan hệ rộng, quen biết và có mối quan hệ rất thân thiết với chính quyền. Như vậy chuyện người ta cố tình sửa chữa có thể xảy ra hay không? Và chuyện sửa đổi đó có vi phạm pháp luật không?

Người gửi: Trung Kim

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê

.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gủi những thắc mắc cho chuyên mục, dựa vào những giữ liệu bạn cung cấp, tôi có thể trả lời bạn như sau:

Theo điều 677 bộ luật dân sự  năm 2005 về thừa kế thế vị quy định : Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Mẹ bạn là người thừa kế kế vị hợp pháp.

Theo điều 652 bộ luật dân sự 2005 về tính hợp pháp của di chúc bằng miệng : Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo Điều 654 luật dân sự năm 2005. Người làm chứng cho việc lập di chúc. Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Trong trường hợp người làm chứng cho di chúc không thuộc 3 trường hợp kể trên thì bản di chúc vẫn có hiệu lực pháp lí. Trừ trường hợp chứng minh được di chúc bị sửa đổi hay chứng minh người lập di chúc trong trạng thái không minh mẫn hoặc bị lừa dối, ép buộc thì có thể yêu cầu tòa án hủy bản di chúc và tài sản sẽ chia lại theo thừa kế theo pháp luật.

Hi vọng rằng, nếu có bất kì vấn đề pháp lí nào khác, bạn sẽ liên hệ với chúng tôi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài tư vấn pháp luật 1900.1940 để được trợ giúp trực tiếp.
Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

 

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

-------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;