Bà mất năm 1989, ông mất năm 2003. Khi ông mất chỉ để lại tờ đi chúc cho ba tôi toàn quyền sử dụng thửa đất và căn nhà trên có UBND Phường làm chứng đóng dấu. Nhưng do ba tôi không hiểu pháp luật nên không đi khai nhận tài sản đó mà để tới bây giờ mới đi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được trả lời là di trúc hết hiệu lực nên không thể cấp được cho ba tôi. Nếu muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có các anh chị đồng ý cho thì mới làm được giấy. Sau đó ba tôi có nói chuyện với các bác thì các bác không chịu mà đòi ba tôi chia cho một nửa thửa đất đó hoặc đưa tiền thì mới chịu ký giấy cho. Ba tôi nói chỉ có thể đưa cho mỗi người 50 triệu thôi thì các bác không chịu mà làm đơn thưa ba tôi ra Phường. Phường có cử người xuống nhà gặp ba tôi rồi.

Xin hỏi Luật Sư

1. Các bác thưa ba tôi như vậy có đúng pháp Luật không? Tòa sẽ xử như thế nào?

2. Ba tôi đưa tờ di trúc ra có hợp pháp không?Tòa có căn cứ vào đó mà xử cho ba tôi thắng không?

3. Ba tôi có bị mất nhà không? Có bị các bác đuổi ra khỏi nhà không? Mẹ tôi lo lắng quá mất ăn mất ngủ.

Thân Chào Luật Sư!

Rất mong được sự tư vấn của Luật Sư!

Người gửi: ĐĐT

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn tài sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: - 1900.6162

Trả lời:

Nội dung trả lời

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005

Luật Đất đai 2013

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, ông bà bạn có 7 người con nên theo quy định của pháp luật chia thừa kế thì mảnh đất của ông bà bạn để lại phải được chia đều cho 7 người. Tuy nhiên di chúc của ông bạn để lại toàn bộ quyền sử dụng đất và căn nhà ở trên mảnh đất đó cho con út (tức ba của bạn) nên quyền sử dụng mảnh đất cũng như ngôi nhà trên mảnh đất đó thuộc về ba bạn. Các bác còn lại chỉ có khả năng được chia thừa kế theo pháp luật nếu rơi vào trường hợp con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Thứ hai, di chúc để lại toàn bộ tài sản thừa kế của ông cho ba bạn là hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các quy định tại Điều 652 BLDS 2005:

"1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Thứ ba, về vấn đề sở hữu quyền sử dụng nhà ở cũng như mảnh đất nêu trên thì theo quy định Luật Đất đai 2013, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác cần phải có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền về đất đai cấp cho; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trước ngày 15/10/1993; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế (tức di chúc ông bạn để lại cho ba bạn)...Chỉ cần có một trong các loại giấy tờ này mà trên giấy tờ đó có ghi tên người khác, kèm giấy tờ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của bên liên quan mà chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất mà không phải đóng tiền sử dụng đất.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ