Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sựcủa công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sựgọi1900.6162

 

 

Trả lời:

 

Chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê,với thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009

Nội dung phân tích:

Do bạn không cung cấp rõ thông tin về vấn để giữa bạn và người mà bạn đứng tên mua điện thoại hộ, có thỏa thuận đảm bảo sự cam kết về trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cuả họ (trực tiếp cho công ty bán hàng hoặc cho cá nhân bạn) bằng việc viết giấy cam kết hay không nên chúng tôi giả định trường hợp bạn đứng tên mua trả góp điện thoại hộ người bạn của mình nhưng không có giấy tờ cam kết về nghĩa vụ trả nợ từ bên bạn của bạn.

- Theo quy định tại Điều 461 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về việc mua trả chậm, trả dần như sau:

Điều 461. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Việc bạn thay bạn của mình đứng tên trong hợp đồng mua bán điện thoại với phương thức trả góp là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, trong hợp đồng mua bán, bạn là chủ thể bên mua, bạn sẽ có trách nhiệm thực hiện đúng theo những cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng. Vì vậy, tại thời điểm này, dù bạn của bạn là người trực tiếp giữ điện thoại được mua trả góp nhưng hiện không thực hiện việc trả góp hàng tháng, thì bạn vân phải có trách nhiệm thực hiện thanh toán đúng theo tiến độ thanh toán trong hợp đồng. 

Như vậy, để giải quyết trường hợp này, bạn phải thực hiện việc thanh toán tiền trả góp điện thoại cho công ty bán điện thoại, ngoài ra còn phải thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận theo quy định tại Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

“Điều 422. Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm

1. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.

3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”.

Nếu bạn chưa có khả năng chi trả, bạn có thể thỏa thuận, đề nghị phía ngân hàng tạo điều kiện để thực hiện  việc thanh toán một cách phù hợp nhất. Trong trường hợp này, ngân hàng có thể khởi kiện tới Tòa án yêu cầu bạn thanh toán số tiền trên. Khi đó, bạn sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn, và phải có trách nhiệm thực hiện theo hợp đồng đã cam kết.

- Về việc bạn có bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì:

Dựa trên những gì mà bạn cung cấp, khi giao kết hợp đồng mua bán tài sản trả góp, bạn có cung cấp thông tin xác thực (tức là không có hành vi lừa dối) cho bên bán hay không. Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, thông tin, giấy tờ (họ tên, số CMTND, địa chỉ..) bạn đều cung cấp đúng cho bên bán thì tức là bạn không có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

  Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, mục đích của bên bán chỉ là thu hồi số nợ của bạn chứ họ không ý định tố cáo để buộc bạn phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì số tiền không lớn, nên bạn nên thanh toán số tiền còn lại cho họ để tránh những rắc rối không đáng có về mặt pháp lý.

Mặt khác, Còn vấn đề giữa bạn và người bạn kia, rằng không biết giữa hai người có tồn tại giấy tờ cam kết hay thỏa thuận đứng tên hộ hay không? vì đó cũng là căn cứ để bạn nhờ cơ quan công an giải quyết giúp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn luật Dân sự.