Bên thuê đã gửi thông báo bằng văn bản cho tôi và tôi đã lưu văn bản và có thông báo bằng miệng lại cho BGĐ và BGĐ cũng có biết bên thuê sẽ chuyển đi, thời gian là tháng 1 năm nay. Nhưng tôi lại quên mất là công ty thuê mặt bằng có gửi thông báo chuyển đi, và đến lúc bên thuê chuyển đi vào tháng 4/2015 thì công ty tôi không trả lại tiền đặt cọc cho bên thuê số tiền là 200.000.000 vnđ, và vì vi phạm hợp đồng, và tôi bị cho thôi việc vào tháng 4. Trước khi thôi việc tôi có ghi một bản tường trình là bên thuê đã thông báo bằng miệng cho công ty tôi tôi quên mất có gửi thông báo bằng văn bản. Bây giờ bên thuê kiện công ty cũ của tôi đòi lại tiền cọc, và công ty cũ lại kiện lại tôi vi phạm như trên ra tòa. Công ty cũ đã cho tôi thôi việc và không trả lương tháng 4 và sổ bảo hiểm cho tôi.
Luật sư tư vấn cho tôi trong trường hợp này nếu ra tòa tôi sẽ bị trách nhiệm như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: NVH

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật Dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng ?

Luật sư tư vấn Luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1.Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

2.Nội dung phân tích:

2.1.Thứ hai về trách nhiệm trả lại tiền đặt cọc

- Căn cứ theo điều 380 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 358. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Như vậy theo quy định của pháp luật thì việc đặt cọc tiền của công ty thuê văn phòng của công ty bạn là để thực hiện hợp đồng thuê văn phòng. Và hai bên đã ký kết hợp đồng thuê nhà với thời hạn 5 năm. Tuy nhiên chưa hết thời hạn thuê thì bên thuê văn phòng đã không tiếp tục thuê.Do bạn không nêu rõ trong hợp đồng thuê văn phòng của mình có điều khoản quy định là chỉ cần thông báo trước 03 tháng trước khi di dời là:

TH1:Điều kiện để chủy bỏ hợp đồng trước thời hạn thì căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 425 Bộ luật dân sự năm 2005:

"3. Khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.

4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại."

Như vậy bên công ty bạn phải trả lại số tiền đã nhận của bên thuê khi trừ chi phí cho thời hạn thuê của ba năm.Còn nếu đó không là điều kiện để hủy bỏ thì bên công ty thuê phải bồi thường thiệt hại cho công ty bạn theo quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2005.

TH2: Điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng, căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 426 Bộ luật dân sự năm 2005:

"3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán.

4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trường hợp này cũng giải quyết tương tự như TH1.

2.2.Thứ nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

- Căn cứ theo điều 310 và 311 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 310. Hình thức chuyển giao quyền yêu cầu  

1. Việc chuyển giao quyền yêu cầu được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao quyền yêu cầu phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó."

"Điều 311. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ  

1. Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền.

2. Người chuyển giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại."

Theo điều 310 Bộ luật dân sự 2005 quy định thì người chuyển giao quyền yêu cầu thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói hoặc cũng có thể phải có công chứng, chứng thực hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Như vậy bên thuê đã gửi thông báo bằng văn bản cho bạn và bạn đã lưu văn bản và có thông báo bằng miệng lại cho BGĐ và BGĐ cũng có biết bên thuê sẽ chuyển đi, thời gian là tháng 1 năm nay. Tức là việc bên thuê gửi thông báo bằng văn bản cho bạn và đã có thông báo bằng miệng cho BGĐ rồi nên bên thuê đã làm đúng theo quy định tại điều 310 Bộ luật dân sự 2005.

Theo điều 311 Bộ luật dân sự 2005 quy định người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền, vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại. Bạn có ghi một bản tường trình là bên thuê đã thông báo bằng miệng cho công ty bạn bạn quên mất có gửi thông báo bằng văn bản. Bạn là người được bên thuê chuyển giao quyền yêu cầu thì bạn cần phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ cho người thế quyền. Nhưng ở đây bạn lại quên mất là bên thuê có gửi thông báo bằng văn bản lại cho BGĐ, BGĐ không biết bên thuê có gửi thông báo bằng văn bản. Điều đó đã ảnh hưởng tới bên thuê vi phạm điều khoản có ghi trong hợp đồng là phải thông báo bằng văn bản cho công ty. Bạn đã vi phạm khoản 1 điều này nên bạn phải bồi thường thiệt hại.

- Căn cứ điều 307  Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại."

Như vậy, bạn chỉ phải bồi thường thiệt hại bù đắp về vật chất, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, tức là bạn phải trả tiền đặt cọc cho bên thuê mà công ty đã không trả cho bên thuê thôi, chứ công ty không được buộc thôi việc 4 tháng và không trả sổ bảo hiểm cho bạn được. Vì thiệt hại này chỉ là vi phạm do không cung cấp đầy đủ thông tin cho bên công ty bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.