Bà Trần A cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê H bà đã cầm cố cho bà B, bà B lại cầm cố cho ông Lý C nên không đồng ý trả. Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 50/2007/QĐST-DS ngày 31-7-2007, Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh L đã quyết định: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lỷ sổ 104/2007/TLST- DS ngày 15-3-2007 về việc “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là bà Lê H với bị đơn là bà Trần A; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà B, ông Lý C. Ngày 31-10-2007, bà Lê H kháng cáo. Tại quyết định dân sự phúc thẩm số 05/2008/QĐ-PT ngày 26-02-2008, Tòa án nhân dân tỉnh L quyết định: Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 50/2007/QĐST-DS ngày 31-7-2007 của Tòa án nhân dân thị xã T. Giao toàn bộ hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thị xã T giải quyết lại theo thẩm quyền. Tại quyết định số 105/2011/KN-DS ngày 25/2/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với quyết định phúc thẩm nêu trên, đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định dân sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên quyết định sơ thấm số 50/2007/QĐST-DS ngày 31-7-2007 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh L với nhận xét: *Bà Lê H chỉ yêu cầu Tòa án buộc bà Tòng trả lại cho bà Lê H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không tranh chấp về diện tích đất này, cũng không tranh chấp số tiền vay. Trong khi đó tại Mục 1 Chương III Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của đương sự về việc đòi các loại giấy tờ do các cơ quan hành chính nhà nước cấp cho các đương sự để xác định quyền sở hữu tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở... Hơn nữa, pháp luật cũng không xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là loại giấy tờ có giá nên theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự thì các loại giấy tờ trên không phải là tài sản để giao dịch trao đổi. Do đó, Tòa án cấp sơ thấm đã đình chỉ giải quyết vụ án là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Thành là tài sản và cho rằng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân là không đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự* *Trong tình huống trên tôi coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là tài sản, nhưng tôi lại băn khoăn ko biết đối tượng tranh chấp của vụ kiện là gì vì theo như tôi được biết thì "* "đối tượng tranh chấp là quyền quản lí,sử dụng và lợi ích vật chất khác phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp,tài sản đó thuộc sở hữu toàn dân vàdo nhà nước là đại diện chủ sở hữu".

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:H.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê

Trả lời:Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2005 

Nội dung tư vấn

Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 (1); Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 4 của pháp lệnh ngoại hối năm 2005, (2); tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, Điều 3 Luật quản lý nợ công,(3); các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán (4); trái phiếu doanh nghiệp được quy định tạinĐiều 2 của Nghị định số 52/2006/ NĐ - CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (5).

Theo các quy định này, thì các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản như Giấy CNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Giấy đăng ký xe máy, mô tô, ô tô….không phải là giấy tờ có giá . Do đó, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiễm giữ trả lại các giấy tờ này thì Tòa án không thụ lý giải quyết.

Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp ở đây là quyền quản lý tài sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.